"Roi Thuận Truyền, quyền An Thái" hoặc "Trai An Thái, gái An Vinh", là những câu ca nói về các làng võ xưa ở Bình Định. Ba làng võ An Vinh, An Thái và Thuận Truyền là ba làng võ nổi danh biểu trưng cho miền đất võ Bình Định: An Vinh giỏi quyền, Thuận Truyền giỏi roi thuộc môn phái võ ta, còn An Thái giỏi côn thuộc phái võ Tàu.
Làng An Vinh trước năm 1945 rất trù phú, dân cư đông đúc, nằm trải dài theo bờ bắc sông Côn. An Vinh thuở ấy thuộc xã Bình An, huyện Bình Khê nay thuộc xã Tây Vinh, huyện Tây Sơn. Dân sở tại sống bằng nghề làm ruộng là chính, một số làm nghề buôn bán nhỏ, chài lưới, làm đậu miếng và dệt lụa…
Trước và sau năm 1945, An Vinh xuất hiện những võ sư có tên tuổi như Hương mục Ngạc, Cai Bảy (Cai Kềnh), Hương kiểm Cáo, Kiểm Mỹ, Hộ Hải, Hai Điển, Chín Đỗ... Đó là những viên chức làng xã dưới thời phong kiến. Những võ sư rất tinh thông võ nghệ, có sức mạnh hơn người, một mình có thể địch hàng chục, hàng trăm người như Cai Bảy, Hương kiểm Cáo hoặc sử dụng thành thạo đến mười tám món binh khí như Chín Đỗ. Những năm từ 1960 trở đi, một võ sư tên tuổi là Nguyễn Kim Bảng, là người kế thừa phái võ An Vinh đã nổi danh ở Gia Lai, Kon Tum và đã mở nhiều võ đường thu hút hàng trăm võ sinh thuộc nhiều dân tộc khác nhau.
Nơi đây vẫn truyền tụng cho nhau nghe câu chuyện về một cô gái liễu yếu đào tơ hạ hàng chục địch thủ mà không mấy nhọc sức. Người con gái đó không ai khác hơn là cô Tám Cảng, con gái cưng của ông Hương mục Ngạc. Cô Tám đã từng thử sức nhiều võ sĩ đương thời thuộc nhiều môn phái khác nhau nhưng chưa hề thất bại. Cô Tám đã đi vào huyền thoại trong làng võ của đất Tây Sơn, như là một võ sư tên tuổi vào ra các đấu trường như chỗ không người. Sau này, phái "yếu" chưa có ai nối nghiệp được cô Tám cả. Có lẽ từ đó xuất hiện câu ca: "Trai An Thái, gái An Vinh" chăng?
Phía bắc làng An Vinh là làng Thuận Truyền, thuộc xã Bình Thuận, huyện Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn), chỉ cách An Vinh chừng 5-6 km, nổi tiếng về roi. Roi Thuận Truyền đi liền với quyền An Vinh.
Làng Thuận Truyền phần lớn là đất núi đồi, nhân dân lam lũ với nghề nông, nghề vườn bốn mùa khoai sắn. Đất đai thì cằn cỗi, dân cư thưa thớt. Sư tổ của làng roi ở đây phải kể đến Hồ Ngạnh. Đường roi của ông thiên biến vạn hóa, hiểm hóc khôn lường. Một khi địch thủ đã lâm vào thế trận roi vây bủa của ông, chỉ nghe tiếng vù vù cũng đủ khiếp nhược tinh thần.
Bên kia sông Côn là làng An Thái nằm trải dài đến vài cây số. An Thái xưa nay vẫn thuộc xã Nhơn Phúc của huyện An Nhơn, là một thị tứ nho nhỏ thơ mộng, quyến rũ và cổ kính. Phố xá thì nhỏ hẹp, cũ kỹ, nhà cửa phủ rêu phong phảng phất một Hội An thu nhỏ. An Thái bấy giờ như một trung tâm huấn luyện võ thuật truyền thống thuộc phái võ Tàu. Thầy giáo Hiến từng đến đây mở trường dạy học và đã được anh em Tây Sơn đến xin thọ giáo.
Nhân dân An Thái vốn có truyền thống thượng võ và rất yêu thích võ thuật. Nhà giàu có thì thuê thầy võ đến truyền dạy cho con cháu, nhà nghèo cũng phải tìm cách gửi gắm cho võ sư nào đó vò vẽ năm ba đường côn, bài quyền. Thành thử, đã làm "trai An Thái" thì phải biết võ nghệ.
Võ sư Tàu Sáu là người nổi tiếng nhất ở làng võ An Thái. Nhưng sau này, An Thái đã phân ra nhiều chi phái nhỏ hơn, có phái lại lai cả võ ta lẫn võ Tàu. Hiện nay, ở An Thái có đến bốn lò võ lớn là lò võ Bình Sơn, Hải Sơn, Quách Cang (tức phái Tàu Sáu), và Hồ Hoành. Trong đó võ Bình Sơn là đông hơn cả.
Nói đến võ Bình Định là phải kể đến các làng võ An Vinh, Thuận Truyền, An Thái, một thời đã là cái nôi của môn võ thuật Bình Định từng làm rạng danh đất Tây Sơn lịch sử. Theo lão võ sư Lâm Ngọc Phú, chưởng môn võ đường Bình Sơn, kể rằng: "Ngày xưa, vùng đất này thường hay tổ chức Hội đổ giàn, cướp heo quay. Đó là dịp để những người học võ, những lò võ, những làng võ thi thố tài năng với nhau, lễ vật cướp được không lớn nhưng đó là danh dự uy tín của người học võ…".
Ngày xưa, người học võ là học cả đời, có người theo học võ từ khi tóc còn để chỏm cho đến khi lấy vợ, sinh con mà vẫn còn học. Ví như lão võ sư Phan Thọ, hiện đang ở Bình Nghi, Tây Sơn, ông theo học võ từ thuở thiếu niên, khi lập gia đình, vợ ông đã bán 2 con bò để lấy tiền cho ông tiếp tục "tầm sư học võ".
Ngày nay, các lò võ ở An Vinh, An Thái, Bình Nghi vẫn còn mở lớp dạy võ cho thanh thiếu niên trong vùng và các vùng lân cận; có võ đường là vệ tinh cung cấp VĐV cho Sở TDTT. Thế nhưng theo võ sư Lâm Ngọc Phú, thì: "Bây giờ thanh thiếu niên học võ theo kiểu "cấp tốc", học cho có miếng để tự vệ, phòng thân chứ không khổ luyện như lớp cha anh ngày trước…".
Du lịch, GO! - Theo báo Binhdinh, ảnh sưu tầm
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 27 tháng 11, 2011
Thứ Sáu, 25 tháng 11, 2011
Cổng làng – Biểu tượng văn hoá của làng quê Bắc bộ
Lũy tre thấp thoáng đàng xa
Mấy mươi bước nữa về qua cổng làng
Trong lòng bỗng thấy xốn xang
Quê hương hai tiếng nặng mang suốt đời...
Xưa, ở những làng quê châu thổ Bắc bộ, Làng khi ấy tương đối khép kín, chỉ để một hoặc hai lối ra vào và cổng làng được quy định là giới hạn giao lưu liên làng và mở ra khu thổ canh của làng đó. Vào buổi sáng, cổng làng mở, dân làng đi làm, đến tối lặn mặt trời, sau khi dân làng về thôn thì cổng làng được đóng lại, "nội bất xuất, ngoại bất nhập".
Lâu dần, cổng làng không chỉ là nơi phân địa giới giữa các làng với nhau, mà trở thành biểu tượng văn hoá của làng quê châu thổ Bắc bộ, cùng với cây đa, mái đình. Và cổng làng luôn có vị trí quan trọng trong đời sống thực và tinh thần người Việt.
Theo quan niệm truyền thống, bên cạnh cây đa, giếng nước, đình chùa, cổng làng vốn có ý nghĩa như một sự chào đón chân thành, hồ hởi của người địa phương dành cho khách. Với những người con xa quê lâu, sau một hành trình dài trở về, chiếc cổng làng luôn mang đến cảm giác yên bình, thân thương, tạo những giá trị hữu hình vô giá.
Cổng làng xưa – Biểu tượng văn hoá của làng quê Bắc bộ
Cổng làng là một trong những bộ phận cấu thành không thể thiếu của làng quê cổ truyền vùng Bắc Bộ. Cổng làng thường tập trung nhiều ở vùng đồng bằng Bắc bộ như ở tỉnh Hà Bắc, Hà Tây, Nam Định, Hưng Yên, Thái Bình, chủ yếu là những vùng trồng lúa và có văn hoá làng xã. Có làng giàu, có làng khoa bảng, có làng nghề... tất cả những cái hay cái đẹp đều được các vị túc nho viết thành câu đối khắc trước cổng. Và đó là một phần của văn hóa làng.
Cổng làng hai bên có lũy tre, lại mở ra cánh đồng nhiều gió mát, dân làng thường đến ngồi chơi và nhiều khi cổng làng là nơi giao lưu tình cảm, trao đổi thông tin. Một chiếc cổng bằng gỗ cũ kỹ đã tróc sơn, một cánh hay một chiếc cổng xây bằng gạch rêu phong đã mọc đầy là hình ảnh quen thuộc của làng quê Bắc bộ Việt Nam - một biểu tượng thân thương và đặc trưng của mỗi làng quê truyền thống.
Cổng làng ra đời từ rất sớm, gắn liền với sự hình thành và phát triển của làng. Ðó là nơi đất lề, quê thói, làng đã đủ tuổi để cất dựng nên một chiếc cổng. Dù to dù nhỏ, dù xây bằng gạch hay ghép đá, chiếc cổng làng chính là dấu ấn minh chứng cho một nếp làng bề thế, chỉn chu. Cửa nhà trong làng có thể xộc xệch, sơ sài; con người có thể lam lũ, nhếch nhác nhưng cổng làng thì phải đàng hoàng, chững chạc. Ðơn giản chỉ bởi cổng làng là bộ mặt, là biểu tượng của làng quê, phần nào thể hiện được cốt cách của làng, tư chất của mỗi người dân trong làng.
Cổng làng được dùng như một qui ước không gian hơn là một giới hạn địa lý của làng. Tam quan cổng làng được dùng như một qui ước không gian hơn là một giới hạn địa lý của làng. Nó chẳng ngǎn che được gì về vật lý lẫn thị giác. Vậy mà làng không cổng chẳng khác gì nhà không cửa. Nó như một dấu hiệu đánh mốc trong và ngoài của không gian làng - đó là một phần của văn hóa làng. Cái kiểu đánh dấu này luôn tồn tại trong tâm thức người Việt. Một buổi giao lưu trong thiên nhiên, một đám hội hè, hễ có nhiều quần thể khác nhau thì thế nào cũng dựng cổng, định vị "xác định chủ quyền" dẫu thực tế chẳng có gì ngǎn cách. Cổng làng như một nghi thức trong cấu trúc môi trường làng. Có cổng thì ở sát rìa làng, có cổng thì ở tít đầu đường, chỗ giao với cái quan (đường cái) và làng.
Vẻ đẹp của cổng làng gắn với nền văn minh lúa nước, mang tính phác họa, gợi nên những ước vọng của cộng đồng từ đời này qua đời khác, nơi như có dáng đứng của cha, có vòng tay của mẹ, nơi tâm điểm để cho ta lượng đo sức mình khi đi xa và ngược lại nó cũng là nơi hút về những nỗi nhớ, những hoài niệm về quê hương. Cố giáo sư Từ Chi cho rằng, cổng làng có vị trí quan trọng trong đời sống thực và đời sống tinh thần người dân Việt Nam. Bởi lẽ, dù đô thị hóa đến đâu, nhiều nhà cao tầng hay biệt thự, làng vẫn không thể là phố.
Chưa cần bước sâu vào làng, chưa đặt chân tới sân đình, đứng trước cổng làng, người xa lạ cũng có thể cảm được phần nào cốt cách của làng, tư chất của mỗi người dân. Bởi vậy, cổng làng phải được đặt ở vị trí trang trọng nhất và dễ nhìn nhất, để người của làng dù có tha phương cầu thực nơi đất khách quê người, trở về trong một đêm không trăng, không sao chỉ khẽ chạm tay cũng biết mình đã về tới mái nhà thân yêu. Phía sau cánh cổng làng chính là sự kết nối cộng đồng gia tộc làng xã, là những nét chung về phong tục, tập quán, văn hoá riêng biệt không làng nào giống với làng nào.
Con đường đi qua cổng làng, để lại theo nǎm tháng những lớp bụi quê vô thường, vô thức, chứng kiến không biết bao nhiêu sự kiện lớn của làng. Những đám rước, đám hội, thương nhau cũng hò hẹn ở chốn cổng làng, rồi khi về làm dâu, bước qua cổng làng về nhà chồng, trở thành một thành viên trong cộng đồng dân cư... như đều được bắt đầu hay kết thúc ở đây. Có ai mỗi khi xa quê không ngoái nhìn lại, nhìn lần cuối tam quan làng mình. Những người con xa xứ, khi về lại quê nhà, bước qua cổng làng là biết mình đã về tới mái nhà thân yêu, về được lại mảnh đất chôn rau cắt rốn, chợt thấy lòng ấm lại. Có cả niềm hân hoan, nỗi bịn rịn ươn ướt trên mi, quệt vào vách cổng, sướt trên cột cổng. Và có ai mỗi khi xa quê không ngoái nhìn lại, nhìn lần cuối tam quan làng mình. Với vẻ trầm mặc ghi dấu ấn văn hóa một thời được xây dựng và phương trưởng của vùng miền theo thời gian.
Kiến trúc cổng làng châu thổ Bắc bộ
Kiến trúc cổng làng xưa không cầu kỳ, phô trương, mà chỉ nhằm khẳng định chỗ đứng của mình trong khoảng không gian làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ, vốn "nửa kín, nửa hở", trong đó giới hạn của nó chỉ mang tính chất tượng trưng. Mỗi một cổng làng Việt Nam đều có những nét kiến trúc riêng làm tâm điểm trong cái bố cục hài hòa với không gian của con đường làng, lũy tre xanh, cây đa, giếng nước, ao làng và những cánh đồng lúa chín.
Cổng làng thường được đặt ở vị trí trang trọng nhất, dễ nhìn thấy nhất và thường thì chỉ có một cửa chính nhưng ở nhiều nơi, liền với cửa chính còn có hai cửa phụ thấp và nhỏ hơn, được xây dựng trang trí hài hoà với cổng chính, tạo thành một thể kiến trúc thống nhất tựa như những ngôi tam quan của chùa, hay như những bức cửa mã ở đình làng. Ngày thường, người lạ kể cả dân làng chỉ được qua lại ở hai cửa ngách, khi làng có việc trọng đại như vua đến thăm, lễ rước quan trạng vinh qui, hội hè… cửa chính mới được mở ra. Hai bên cổng làng thường gắn đôi vế đối chữ nho, câu đối có thể do vua ban nhưng phần lớn là những câu đối do làng lập nên.
Cổng làng thường là một tam quan xây gạch, không to lắm cũng không lớn lắm. Cầu kỳ thì đắp ngói với một vài họa tiết dân gian. Ở những chốn quê nghèo, cổng làng mộc mạc. Hai bên trụ gạch thấp nhỏ, khiêm nhường đỡ một tấm xà cũng bằng gạch, thế là thành cổng làng. Không một nét vẽ trang điểm, không màu mè, thậm chí không một nét chữ tên làng, vậy mà chính những chiếc cổng vô danh như thế lại trở nên thân thiết gắn bó vô chừng.
Làng khá giả thì cổng lớn, rồng chầu, hổ phục, nóc mái và đầu đao có khi kết đôi chim phượng. Thời phong kiến, nhiều khi danh giá của làng quyết định tầm cỡ cổng làng. Ngày ấy, làng nào có nhiều người đỗ đạt, làm quan thường được vua ban cho quyền xây cổng lớn nhưng cũng không được vượt quá những qui định của luật lệ.
Cũng không ít làng dựng hai cổng, gồm cổng tiền và cổng hậu. Cổng tiền, thường hướng về phía Đông Nam, hướng của gió lành, hướng của mặt trời mọc, để đón những niềm vui sinh sôi trong lao động và hạnh phúc, còn cổng hậu, thường hướng ra phía Tây, hướng mặt trời lặn, để tiễn đưa những vướng bận buồn rầu.
Cổng làng trước đây còn có cánh cửa, do bà con địa phương chung tiền dựng bằng gỗ hoặc bằng tre và thường trổ về hướng Đông Nam, đón gió mát và mặt trời mọc. Cánh cửa ấy mở ra mỗi sớm, với hy vọng mang vào phúc lộc và niềm vui. Cổng có người thay nhau canh gác để bảo vệ bình an cho bà con, khi có biến động.
Cổng làng, đối với người xưa, có sự gắn bó sâu sắc, thể hiện tình cảm thiêng liêng với quê hương xứ sở. Xưa, Lương Văn Can, người sáng lập ra phong trào Đông Kinh nghĩa thục (1907), quê ở làng Nhị Khê, Thường Tín, mỗi khi về quê, qua cổng làng là cổng Quốc, có đề bốn chữ “Như kiến đại tân” (Như được đón khách quý), nếu đi xe tay, đến cổng Quốc, ông đều xuống xe, đi bộ về nhà. Mặc dù theo lệ làng phải đến gần đền thờ Nguyễn Trãi, gọi là đền ông Khai Quốc, có tấm bia hạ mã, người đi xe mới phải xuống xe đi bộ qua đền, rồi qua đền lại được lên xe đi tiếp.
Tình cảm sâu nặng với quê hương, trân trọng các bậc tiên liệt của người quê, mỗi khi qua cổng làng đáng quý, đáng trọng biết bao. Trải qua bao đời, những tình cảm ấy, gắn với cây đa, giếng nước, ao làng, gắn với những ngôi đình, ngôi chùa cổ, đã trở thành hồn quê, mang sức sống và bản lĩnh của làng, trở thành sức mạnh vật chất, chống lại kẻ thù, mỗi khi đất nước bị xâm lược. Nhờ vậy mà ở những thời kỳ dân tộc ta bị mất nước nhưng làng thì không bao giờ mất. Và lẽ sống của người làng được ghi tạc ở cổng làng, luôn sáng ngời những giá trị chân, thiện, mỹ. Đó chính là một diện mạo mang bản sắc độc đáo của văn hoá làng.
Trải qua thăng trầm của thời gian, ngày nay cổng làng - Biểu tượng văn hoá của làng quê châu thổ Bắc bộ đang dần đi vào quên lãng bởi tốc độ chóng mặt của sự đô thị hóa. Nhà tầng với nhiều kiểu cách xây dựng pha tạp đã mọc lên giữa những làng quê bao đời mộc mạc, bình dị, phá vỡ ít nhiều cái cảnh quan đã là đặc trưng của nông thôn Bắc bộ suốt mấy trăm năm.
Dẫu vậy, vẫn còn ở đâu đó tại các làng quê miền Bắc bộ vẻ đẹp của những kiến trúc cổ của những chiếc cổng làng đa dạng. Cổng làng Bắc bộ như một lời mời chào thành thật nhất để ta bước vào với đời sống làng quê. Trong một góc tâm thức nào đó của người dân, cổng làng vẫn tồn tại như một biểu tượng thân thương và đặc trưng của mỗi làng quê truyền thống.
Hiện nay, các làng quê Việt Nam và các làng xã ngoại ô thành phố đang nở rộ “phong trào” phục chế lại hay xây dựng mới các cổng làng theo kiểu truyền thống. Đó là một nét đáng mừng. Nhưng có lẽ, niềm vui sẽ trọn vẹn hơn nếu sau mỗi cổng làng ấy là cuộc sống người dân luôn no ấm, yên bình và đậm đà bản sắc “Mỹ tục khả phong” (Phong tục tốt đẹp) riêng.
Du lịch, GO! - Theo mạng Cinet, internet
Mấy mươi bước nữa về qua cổng làng
Trong lòng bỗng thấy xốn xang
Quê hương hai tiếng nặng mang suốt đời...
Xưa, ở những làng quê châu thổ Bắc bộ, Làng khi ấy tương đối khép kín, chỉ để một hoặc hai lối ra vào và cổng làng được quy định là giới hạn giao lưu liên làng và mở ra khu thổ canh của làng đó. Vào buổi sáng, cổng làng mở, dân làng đi làm, đến tối lặn mặt trời, sau khi dân làng về thôn thì cổng làng được đóng lại, "nội bất xuất, ngoại bất nhập".
Lâu dần, cổng làng không chỉ là nơi phân địa giới giữa các làng với nhau, mà trở thành biểu tượng văn hoá của làng quê châu thổ Bắc bộ, cùng với cây đa, mái đình. Và cổng làng luôn có vị trí quan trọng trong đời sống thực và tinh thần người Việt.
Theo quan niệm truyền thống, bên cạnh cây đa, giếng nước, đình chùa, cổng làng vốn có ý nghĩa như một sự chào đón chân thành, hồ hởi của người địa phương dành cho khách. Với những người con xa quê lâu, sau một hành trình dài trở về, chiếc cổng làng luôn mang đến cảm giác yên bình, thân thương, tạo những giá trị hữu hình vô giá.
Cổng làng xưa – Biểu tượng văn hoá của làng quê Bắc bộ
Cổng làng là một trong những bộ phận cấu thành không thể thiếu của làng quê cổ truyền vùng Bắc Bộ. Cổng làng thường tập trung nhiều ở vùng đồng bằng Bắc bộ như ở tỉnh Hà Bắc, Hà Tây, Nam Định, Hưng Yên, Thái Bình, chủ yếu là những vùng trồng lúa và có văn hoá làng xã. Có làng giàu, có làng khoa bảng, có làng nghề... tất cả những cái hay cái đẹp đều được các vị túc nho viết thành câu đối khắc trước cổng. Và đó là một phần của văn hóa làng.
Cổng làng hai bên có lũy tre, lại mở ra cánh đồng nhiều gió mát, dân làng thường đến ngồi chơi và nhiều khi cổng làng là nơi giao lưu tình cảm, trao đổi thông tin. Một chiếc cổng bằng gỗ cũ kỹ đã tróc sơn, một cánh hay một chiếc cổng xây bằng gạch rêu phong đã mọc đầy là hình ảnh quen thuộc của làng quê Bắc bộ Việt Nam - một biểu tượng thân thương và đặc trưng của mỗi làng quê truyền thống.
Cổng làng ra đời từ rất sớm, gắn liền với sự hình thành và phát triển của làng. Ðó là nơi đất lề, quê thói, làng đã đủ tuổi để cất dựng nên một chiếc cổng. Dù to dù nhỏ, dù xây bằng gạch hay ghép đá, chiếc cổng làng chính là dấu ấn minh chứng cho một nếp làng bề thế, chỉn chu. Cửa nhà trong làng có thể xộc xệch, sơ sài; con người có thể lam lũ, nhếch nhác nhưng cổng làng thì phải đàng hoàng, chững chạc. Ðơn giản chỉ bởi cổng làng là bộ mặt, là biểu tượng của làng quê, phần nào thể hiện được cốt cách của làng, tư chất của mỗi người dân trong làng.
Cổng làng được dùng như một qui ước không gian hơn là một giới hạn địa lý của làng. Tam quan cổng làng được dùng như một qui ước không gian hơn là một giới hạn địa lý của làng. Nó chẳng ngǎn che được gì về vật lý lẫn thị giác. Vậy mà làng không cổng chẳng khác gì nhà không cửa. Nó như một dấu hiệu đánh mốc trong và ngoài của không gian làng - đó là một phần của văn hóa làng. Cái kiểu đánh dấu này luôn tồn tại trong tâm thức người Việt. Một buổi giao lưu trong thiên nhiên, một đám hội hè, hễ có nhiều quần thể khác nhau thì thế nào cũng dựng cổng, định vị "xác định chủ quyền" dẫu thực tế chẳng có gì ngǎn cách. Cổng làng như một nghi thức trong cấu trúc môi trường làng. Có cổng thì ở sát rìa làng, có cổng thì ở tít đầu đường, chỗ giao với cái quan (đường cái) và làng.
Vẻ đẹp của cổng làng gắn với nền văn minh lúa nước, mang tính phác họa, gợi nên những ước vọng của cộng đồng từ đời này qua đời khác, nơi như có dáng đứng của cha, có vòng tay của mẹ, nơi tâm điểm để cho ta lượng đo sức mình khi đi xa và ngược lại nó cũng là nơi hút về những nỗi nhớ, những hoài niệm về quê hương. Cố giáo sư Từ Chi cho rằng, cổng làng có vị trí quan trọng trong đời sống thực và đời sống tinh thần người dân Việt Nam. Bởi lẽ, dù đô thị hóa đến đâu, nhiều nhà cao tầng hay biệt thự, làng vẫn không thể là phố.
Chưa cần bước sâu vào làng, chưa đặt chân tới sân đình, đứng trước cổng làng, người xa lạ cũng có thể cảm được phần nào cốt cách của làng, tư chất của mỗi người dân. Bởi vậy, cổng làng phải được đặt ở vị trí trang trọng nhất và dễ nhìn nhất, để người của làng dù có tha phương cầu thực nơi đất khách quê người, trở về trong một đêm không trăng, không sao chỉ khẽ chạm tay cũng biết mình đã về tới mái nhà thân yêu. Phía sau cánh cổng làng chính là sự kết nối cộng đồng gia tộc làng xã, là những nét chung về phong tục, tập quán, văn hoá riêng biệt không làng nào giống với làng nào.
Con đường đi qua cổng làng, để lại theo nǎm tháng những lớp bụi quê vô thường, vô thức, chứng kiến không biết bao nhiêu sự kiện lớn của làng. Những đám rước, đám hội, thương nhau cũng hò hẹn ở chốn cổng làng, rồi khi về làm dâu, bước qua cổng làng về nhà chồng, trở thành một thành viên trong cộng đồng dân cư... như đều được bắt đầu hay kết thúc ở đây. Có ai mỗi khi xa quê không ngoái nhìn lại, nhìn lần cuối tam quan làng mình. Những người con xa xứ, khi về lại quê nhà, bước qua cổng làng là biết mình đã về tới mái nhà thân yêu, về được lại mảnh đất chôn rau cắt rốn, chợt thấy lòng ấm lại. Có cả niềm hân hoan, nỗi bịn rịn ươn ướt trên mi, quệt vào vách cổng, sướt trên cột cổng. Và có ai mỗi khi xa quê không ngoái nhìn lại, nhìn lần cuối tam quan làng mình. Với vẻ trầm mặc ghi dấu ấn văn hóa một thời được xây dựng và phương trưởng của vùng miền theo thời gian.
Kiến trúc cổng làng châu thổ Bắc bộ
Kiến trúc cổng làng xưa không cầu kỳ, phô trương, mà chỉ nhằm khẳng định chỗ đứng của mình trong khoảng không gian làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ, vốn "nửa kín, nửa hở", trong đó giới hạn của nó chỉ mang tính chất tượng trưng. Mỗi một cổng làng Việt Nam đều có những nét kiến trúc riêng làm tâm điểm trong cái bố cục hài hòa với không gian của con đường làng, lũy tre xanh, cây đa, giếng nước, ao làng và những cánh đồng lúa chín.
Cổng làng thường được đặt ở vị trí trang trọng nhất, dễ nhìn thấy nhất và thường thì chỉ có một cửa chính nhưng ở nhiều nơi, liền với cửa chính còn có hai cửa phụ thấp và nhỏ hơn, được xây dựng trang trí hài hoà với cổng chính, tạo thành một thể kiến trúc thống nhất tựa như những ngôi tam quan của chùa, hay như những bức cửa mã ở đình làng. Ngày thường, người lạ kể cả dân làng chỉ được qua lại ở hai cửa ngách, khi làng có việc trọng đại như vua đến thăm, lễ rước quan trạng vinh qui, hội hè… cửa chính mới được mở ra. Hai bên cổng làng thường gắn đôi vế đối chữ nho, câu đối có thể do vua ban nhưng phần lớn là những câu đối do làng lập nên.
Cổng làng thường là một tam quan xây gạch, không to lắm cũng không lớn lắm. Cầu kỳ thì đắp ngói với một vài họa tiết dân gian. Ở những chốn quê nghèo, cổng làng mộc mạc. Hai bên trụ gạch thấp nhỏ, khiêm nhường đỡ một tấm xà cũng bằng gạch, thế là thành cổng làng. Không một nét vẽ trang điểm, không màu mè, thậm chí không một nét chữ tên làng, vậy mà chính những chiếc cổng vô danh như thế lại trở nên thân thiết gắn bó vô chừng.
Làng khá giả thì cổng lớn, rồng chầu, hổ phục, nóc mái và đầu đao có khi kết đôi chim phượng. Thời phong kiến, nhiều khi danh giá của làng quyết định tầm cỡ cổng làng. Ngày ấy, làng nào có nhiều người đỗ đạt, làm quan thường được vua ban cho quyền xây cổng lớn nhưng cũng không được vượt quá những qui định của luật lệ.
Cũng không ít làng dựng hai cổng, gồm cổng tiền và cổng hậu. Cổng tiền, thường hướng về phía Đông Nam, hướng của gió lành, hướng của mặt trời mọc, để đón những niềm vui sinh sôi trong lao động và hạnh phúc, còn cổng hậu, thường hướng ra phía Tây, hướng mặt trời lặn, để tiễn đưa những vướng bận buồn rầu.
Cổng làng trước đây còn có cánh cửa, do bà con địa phương chung tiền dựng bằng gỗ hoặc bằng tre và thường trổ về hướng Đông Nam, đón gió mát và mặt trời mọc. Cánh cửa ấy mở ra mỗi sớm, với hy vọng mang vào phúc lộc và niềm vui. Cổng có người thay nhau canh gác để bảo vệ bình an cho bà con, khi có biến động.
Cổng làng, đối với người xưa, có sự gắn bó sâu sắc, thể hiện tình cảm thiêng liêng với quê hương xứ sở. Xưa, Lương Văn Can, người sáng lập ra phong trào Đông Kinh nghĩa thục (1907), quê ở làng Nhị Khê, Thường Tín, mỗi khi về quê, qua cổng làng là cổng Quốc, có đề bốn chữ “Như kiến đại tân” (Như được đón khách quý), nếu đi xe tay, đến cổng Quốc, ông đều xuống xe, đi bộ về nhà. Mặc dù theo lệ làng phải đến gần đền thờ Nguyễn Trãi, gọi là đền ông Khai Quốc, có tấm bia hạ mã, người đi xe mới phải xuống xe đi bộ qua đền, rồi qua đền lại được lên xe đi tiếp.
Tình cảm sâu nặng với quê hương, trân trọng các bậc tiên liệt của người quê, mỗi khi qua cổng làng đáng quý, đáng trọng biết bao. Trải qua bao đời, những tình cảm ấy, gắn với cây đa, giếng nước, ao làng, gắn với những ngôi đình, ngôi chùa cổ, đã trở thành hồn quê, mang sức sống và bản lĩnh của làng, trở thành sức mạnh vật chất, chống lại kẻ thù, mỗi khi đất nước bị xâm lược. Nhờ vậy mà ở những thời kỳ dân tộc ta bị mất nước nhưng làng thì không bao giờ mất. Và lẽ sống của người làng được ghi tạc ở cổng làng, luôn sáng ngời những giá trị chân, thiện, mỹ. Đó chính là một diện mạo mang bản sắc độc đáo của văn hoá làng.
Trải qua thăng trầm của thời gian, ngày nay cổng làng - Biểu tượng văn hoá của làng quê châu thổ Bắc bộ đang dần đi vào quên lãng bởi tốc độ chóng mặt của sự đô thị hóa. Nhà tầng với nhiều kiểu cách xây dựng pha tạp đã mọc lên giữa những làng quê bao đời mộc mạc, bình dị, phá vỡ ít nhiều cái cảnh quan đã là đặc trưng của nông thôn Bắc bộ suốt mấy trăm năm.
Dẫu vậy, vẫn còn ở đâu đó tại các làng quê miền Bắc bộ vẻ đẹp của những kiến trúc cổ của những chiếc cổng làng đa dạng. Cổng làng Bắc bộ như một lời mời chào thành thật nhất để ta bước vào với đời sống làng quê. Trong một góc tâm thức nào đó của người dân, cổng làng vẫn tồn tại như một biểu tượng thân thương và đặc trưng của mỗi làng quê truyền thống.
Hiện nay, các làng quê Việt Nam và các làng xã ngoại ô thành phố đang nở rộ “phong trào” phục chế lại hay xây dựng mới các cổng làng theo kiểu truyền thống. Đó là một nét đáng mừng. Nhưng có lẽ, niềm vui sẽ trọn vẹn hơn nếu sau mỗi cổng làng ấy là cuộc sống người dân luôn no ấm, yên bình và đậm đà bản sắc “Mỹ tục khả phong” (Phong tục tốt đẹp) riêng.
Du lịch, GO! - Theo mạng Cinet, internet
Thứ Năm, 24 tháng 11, 2011
Làng cổ Đông Hòa Hiệp
Làng cổ Đông Hòa Hiệp ở huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang nổi tiếng với phong cảnh hữu tình nhờ có con sông Cái Bè bao quanh, cùng với hình ảnh những ngôi nhà cổ nằm ẩn mình thơ mộng giữa những vườn cây trái suốt bốn mùa xanh tươi, trĩu quả.
< Ngôi nhà cổ của gia đình ông Phan Văn Đức ở làng Đông Hòa Hiệp.
Cùng với làng Đường Lâm ở Hà Nội và làng Phước Tích ở Huế, làng Đông Hòa Hiệp là một trong 3 ngôi làng cổ ở Việt Nam được Tổng cục Du lịch Việt Nam cùng Tổ chức Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) lựa chọn để đầu tư phát triển mô hình du lịch nông thôn.
Không giống cách bố trí nhà san sát như ở làng cổ Đường Lâm và làng cổ Phước Tích, làng cổ Đông Hòa Hiệp có một khung cảnh nên thơ, thoáng đãng với những ngôi nhà cổ nằm thấp thoáng giữa những vườn cây trái rộng xanh tươi được bao bọc bởi con sông Cái Bè hiền hòa.
< Nội thất ngôi nhà được bài trí theo phong cách truyền thống.
Đến đây du khách sẽ được thưởng ngoạn cảnh đẹp bình yên của làng bằng cách đi xuồng trên sông hoặc đi bộ men theo những con đường len lỏi giữa các vườn cây rợp bóng.
< Gian thờ được chạm trổ tinh vi, cầu kỳ.
Một trong những điểm ấn tượng đối với du khách khi đến với làng cổ Đông Hòa Hiệp là hình ảnh của những ngôi nhà cổ mang đậm phong cách nhà vườn Nam Bộ có tuổi đời khoảng 150 năm.
< Du khách nước ngoài tham quan một ngôi nhà cổ ở Đông Hòa Hiệp.
Ngôi nhà cổ của ông Trần Tuấn Kiệt ở ấp Phú Hòa, xã Đông Hòa Hiệp nằm ẩn mình giữa một vườn cây ăn trái rộng 1,8 ha. Ngôi nhà 5 gian, rộng gần 1000 mét vuông với 108 cây cột làm bằng loại gỗ căm xe quý hiếm. Nhà được xây vào khoảng năm 1838.
< Bộ tủ và đồ trang trí khảm trai quý giá.
Trải qua gần 200 năm nhưng ngôi nhà vẫn còn như nguyên vẹn. Trên các vì kèo, ô cửa, bao lan… bằng gỗ người ta thấy có nhiều hình chạm khắc theo mô típ tùng, cúc, trúc, mai rất tinh tế và điêu luyện. Ngoài ra, trong nhà vẫn còn giữ được nhiều bộ liễn đối khảm xà cừ, các bộ bàn ghế chạm trổ rất công phu và nhiều vật dụng bằng sứ quý hiếm.
< Một bộ đèn dầu có từ thời Pháp.
Bà Lê Thị Chính, vợ của ông Trần Tuấn Kiệt cho biết, thời xưa, ông cố của chồng bà là quan tri huyện, là người rất thích chơi đồ cổ nên đã thuê thợ giỏi từ ngoài kinh đô Huế vào dựng mất mấy năm trời mới xong ngôi nhà này và ông cũng đã bỏ rất nhiều tiền của để sưu tầm được rất nhiều đồ cổ quý hiếm.
< Tủ đựng các đồ gốm sứ cổ.
Năm 2002, Tổ chức Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) đã tài trợ hơn 1,8 tỉ đồng để sửa chữa lại ngôi nhà này, đồng thời cử một nữ kiến trúc sư người Nhật đến ăn ở tại chỗ để giám sát công việc trong hơn 6 tháng liền. Nhờ đó, các chuyên gia Nhật Bản đã phục chế được toàn bộ kiến trúc của ngôi nhà và vật dụng trang trí bên trong nhà theo đúng nguyên bản như xưa.
< Du khách tnước ngoài ham quan ngôi nhà cổ ông Trần Tuấn Kiệt.
Ngôi nhà cổ thứ hai của làng Đông Hòa Hiệp được nhiều du khách viếng thăm là nhà của ông Phan Văn Đức. Nhà xây vào năm 1850, có lối kiến trúc Đông – Tây kết hợp. Nếu như mặt tiền của ngôi nhà được xây theo kiểu Pháp với những hàng cột tròn, mái vòm uốn cong đầy lãng mạn, thì bên trong nội thất lại là một không gian kiến trúc thuần Việt. Hiện trong nhà vẫn còn lưu giữ được nhiều vật dụng quý và đẹp cho thấy một thú chơi phong lưu, tao nhã của những gia đình giàu có ở Nam Bộ xưa kia.
< Nét duyên dáng của thiếu nữ làng cổ Đông Hòa Hiệp.
Hiện nay, làng cổ Đông Hòa Hiệp đang là một điểm đến đầy hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước. Ước tính trung bình mỗi năm, làng đón khoảng 100.000 lượt du khách đến tham quan. Đặc biệt, lượng khách nước ngoài đến đây ngày càng tăng.
Du lịch, GO! - Theo Báo Ảnh VN
< Ngôi nhà cổ của gia đình ông Phan Văn Đức ở làng Đông Hòa Hiệp.
Cùng với làng Đường Lâm ở Hà Nội và làng Phước Tích ở Huế, làng Đông Hòa Hiệp là một trong 3 ngôi làng cổ ở Việt Nam được Tổng cục Du lịch Việt Nam cùng Tổ chức Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) lựa chọn để đầu tư phát triển mô hình du lịch nông thôn.
Không giống cách bố trí nhà san sát như ở làng cổ Đường Lâm và làng cổ Phước Tích, làng cổ Đông Hòa Hiệp có một khung cảnh nên thơ, thoáng đãng với những ngôi nhà cổ nằm thấp thoáng giữa những vườn cây trái rộng xanh tươi được bao bọc bởi con sông Cái Bè hiền hòa.
< Nội thất ngôi nhà được bài trí theo phong cách truyền thống.
Đến đây du khách sẽ được thưởng ngoạn cảnh đẹp bình yên của làng bằng cách đi xuồng trên sông hoặc đi bộ men theo những con đường len lỏi giữa các vườn cây rợp bóng.
< Gian thờ được chạm trổ tinh vi, cầu kỳ.
Một trong những điểm ấn tượng đối với du khách khi đến với làng cổ Đông Hòa Hiệp là hình ảnh của những ngôi nhà cổ mang đậm phong cách nhà vườn Nam Bộ có tuổi đời khoảng 150 năm.
< Du khách nước ngoài tham quan một ngôi nhà cổ ở Đông Hòa Hiệp.
Ngôi nhà cổ của ông Trần Tuấn Kiệt ở ấp Phú Hòa, xã Đông Hòa Hiệp nằm ẩn mình giữa một vườn cây ăn trái rộng 1,8 ha. Ngôi nhà 5 gian, rộng gần 1000 mét vuông với 108 cây cột làm bằng loại gỗ căm xe quý hiếm. Nhà được xây vào khoảng năm 1838.
< Bộ tủ và đồ trang trí khảm trai quý giá.
Trải qua gần 200 năm nhưng ngôi nhà vẫn còn như nguyên vẹn. Trên các vì kèo, ô cửa, bao lan… bằng gỗ người ta thấy có nhiều hình chạm khắc theo mô típ tùng, cúc, trúc, mai rất tinh tế và điêu luyện. Ngoài ra, trong nhà vẫn còn giữ được nhiều bộ liễn đối khảm xà cừ, các bộ bàn ghế chạm trổ rất công phu và nhiều vật dụng bằng sứ quý hiếm.
< Một bộ đèn dầu có từ thời Pháp.
Bà Lê Thị Chính, vợ của ông Trần Tuấn Kiệt cho biết, thời xưa, ông cố của chồng bà là quan tri huyện, là người rất thích chơi đồ cổ nên đã thuê thợ giỏi từ ngoài kinh đô Huế vào dựng mất mấy năm trời mới xong ngôi nhà này và ông cũng đã bỏ rất nhiều tiền của để sưu tầm được rất nhiều đồ cổ quý hiếm.
< Tủ đựng các đồ gốm sứ cổ.
Năm 2002, Tổ chức Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) đã tài trợ hơn 1,8 tỉ đồng để sửa chữa lại ngôi nhà này, đồng thời cử một nữ kiến trúc sư người Nhật đến ăn ở tại chỗ để giám sát công việc trong hơn 6 tháng liền. Nhờ đó, các chuyên gia Nhật Bản đã phục chế được toàn bộ kiến trúc của ngôi nhà và vật dụng trang trí bên trong nhà theo đúng nguyên bản như xưa.
< Du khách tnước ngoài ham quan ngôi nhà cổ ông Trần Tuấn Kiệt.
Ngôi nhà cổ thứ hai của làng Đông Hòa Hiệp được nhiều du khách viếng thăm là nhà của ông Phan Văn Đức. Nhà xây vào năm 1850, có lối kiến trúc Đông – Tây kết hợp. Nếu như mặt tiền của ngôi nhà được xây theo kiểu Pháp với những hàng cột tròn, mái vòm uốn cong đầy lãng mạn, thì bên trong nội thất lại là một không gian kiến trúc thuần Việt. Hiện trong nhà vẫn còn lưu giữ được nhiều vật dụng quý và đẹp cho thấy một thú chơi phong lưu, tao nhã của những gia đình giàu có ở Nam Bộ xưa kia.
< Nét duyên dáng của thiếu nữ làng cổ Đông Hòa Hiệp.
Hiện nay, làng cổ Đông Hòa Hiệp đang là một điểm đến đầy hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước. Ước tính trung bình mỗi năm, làng đón khoảng 100.000 lượt du khách đến tham quan. Đặc biệt, lượng khách nước ngoài đến đây ngày càng tăng.
Du lịch, GO! - Theo Báo Ảnh VN
Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2011
Tản mạn Tây Bắc
Nếu lấy Hà Nội làm trung tâm thì cứ ngược quốc lộ 6 lên phía Tây Bắc là chúng ta sẽ đến được vùng Tây Bắc của tổ quốc, quê hương của những điệu xoè điệu khắp, nơi có rừng hoa ban nở trắng trời.
Qua Hoà Bình, qua cái nôi của văn hoá Mường với Bi-Thang-Vàng-Động, leo gần 100 km đèo nữa là tới cao nguyên Châu Mộc, cao 800-1.000 m. Lên tới đây là bước chân vào vùng Tây Bắc.
Vùng Tây Bắc là không gian văn hóa của dân tộc Thái, nổi tiếng với điệu múa xòe tiêu biểu là điệu múa xòe hoa rất nổi tiếng được nhiều người biết đến. Ngoài ra, còn khoảng 20 dân tộc khác như H'Mông, Nùng, Tày, Pà Thẻn, Mường, Lự, Hà Nhì, Dao...v.v... nhưng Thái là dân tộc có dân số lớn nhất vùng. Ai đã từng qua Tây Bắc khó có thể quên được hình ảnh những cô gái Thái với những bộ váy áo thật rực rỡ đặc trưng cho Tây Bắc.
< Ruộng bậc thang đã trở thành “thương hiệu” có tiếng của vùng Tây Bắc bởi vẻ đẹp quyến rũ, do sức lao động, sáng tạo của đồng bào trên những sườn núi dốc này.
Thực ra đây không phải là vùng đất mà người Thái đặt chân xuống đầu tiên trong cuộc thiên di của mình. Từ thế kỷ XI, theo dòng sông Hồng (Nậm Tao), người Thái đổ bộ xuống Nghĩa Lộ (Mường Lò) rồi từ đó con cháu của Tạo Xuông, Tạo Ngần tiến dần sang các vùng Sơn La, Điện Biên, giáp Lào. Đất ấy, tên Thái là Mường Theng tức là mường trời mà ngày nay chúng ta vẫn đọc trại ra thành Mường Thanh.
< Núi rừng, con người Tây bắc làm mê hoặc lòng người.
Lên tới Mộc Châu là nghe tiếng thông reo vi vút với rừng tre rừng vầu ngút ngàn trong sắc trắng hoa ban. Phải chăng chính vì thế mà châu Mộc có tên Thái là Trảng Tre, Trảng Ban (Phiêng Xang, Phiêng Ban)? ấy là nói những năm trước đây, chứ bây giờ hoa ban còn ít lắm.
Từ cao nguyên Mộc Châu đổ xuống thung lũng Yên Châu rồi vượt qua dãy Chiềng Đông đến Nà Sản về Sơn La không thấy hoa ban. .

< Cây ban, giống như cây sim rừng, nơi nào đất núi, đất sỏi là nơi đó ban mọc và nở nhiều hoa trắng đẹp. Con trai, con gái vùng Sơn La hẹn gặp nhau vào hội chơi núi hái hoa.
Từ Sơn La vượt hơn 30 cây số đèo Pha Đin, nơi ngăn cách giữa trời và đất, nơi bông hoa ban thấm đẫm trong từng câu dân ca Thái để đến Tuần Giáo. Cũng khó gặp hoa ban. Núi rừng hầm hập nóng trong gió Lào của đất Yên Châu, lạnh lẽo và cô quạnh trong mù sương trên đỉnh Pha Đin.

< Hoa ban là hoa của tình yêu, hoa của ước mơ trường thọ và là hoa của những con người trẻ mãi không già...
Đến lúc này, người ta mới thấy quý bóng cây ban. Hoa Ban mất đi không phải lỗi của người dân nơi đây. Người Thái bảo vệ rừng ban không chỉ vì nó là biểu tượng văn hoá của quê hương họ, mà còn vì chỉ có cây ban mới mọc được nơi đất cằn, độ dốc lớn.
Nhờ có cây ban giữ lại mùn mà đất cằn tái sinh, mà nước mưa ngấm vào lòng đất ngăn nhưng cơn lũ ống bất chợt tràn về. Cây ban không cho gỗ, cây ban đun cũng không cháy. Chỉ có bát canh hoa ban cho con trẻ được no lòng khi giáp hạt.
< Tắm tiên giữa núi rừng là nét văn hóa không thể thiếu tại vùng cao Tây bắc.
Luật và tín ngưỡng tôn giáo của người Thái trước đây quy định, bản nào cũng có hai khu rừng hoang dại mang tên rừng kiêng (đông căm) hay rừng ma (đông phi) và một khu rừng cấm chặt phá để bản tổ chức "Ngày hội hái măng" (Há nó pá hẳm).
Vì không ai dám chặt phá nên đã giữ được rừng nguyên sinh. Chẳng riêng gì người Thái, cả người Mông trên núi cao, người Khơ Mú, Kháng, La Hả... trong rừng sâu đều tự nguyện tuân theo luật Thái. Bởi đó là quyền lợi lâu dài của tất cả các dân tộc trong vùng.
Cây ban không còn, rừng cũng không còn, gió Lào như những lưỡi lửa vô hình quất vào đá núi. Chiếc khăn piêu rực rỡ không còn che đỡ nổi cái nắng lúc hạ về. Cô gái Thái bây giờ phải mang thêm cái nón của người xuôi.
Với những cô gái đã lập gia đình, đầu đã búi tóc (tẳng cẩu), đội cái nón vào trông rất ngộ. Nó mất hẳn đi sự cân đối nhưng vẫn đẹp; nó mong manh như mái nhà sàn chông chênh trên sườn núi, ai đó muốn chở che nhưng lại quá xa vời.
< Cơm lam núi rừng Tây bắc.

Ai đã từng ngược ngàn lên vùng Tây Bắc, dừng chân tại mảnh đất Điện Biên và hòa mình vào cuộc sống, phong cảnh thiên nhiên nơi đây sẽ có thêm nhiều hình ảnh, kỷ niệm đẹp trong một chuyến đi.
Nhưng đến Điện Biên mà chưa một lần ngắm nhìn những cánh rừng ngập trắng hoa ban hay đến thăm một bản dân tộc Thái, thưởng thức một món ăn truyền thống của đồng bào Thái, hòa vào hội vui cùng nắm tay múa xòe, nhảy sạp với các thiếu nữ Thái thì coi như chưa đến Điện Biên.
< Trẻ em ở Tây bắc.
Dân tộc Thái có truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán lâu đời, đặc sắc. Nằm trong hệ ngôn ngữ Tày- Thái, người Thái còn có các tên gọi khác là Táy, Hàng Tổng, Pa Thay, Thổ Đà Bắc và có hai nhóm Thái đen, Thái trắng.
Phụ nữ Thái có bộ y phục rất độc đáo với chiếc áo cóm bó sát người đính hàng cúc bướm bằng bạc, chiếc váy dài chấm gót và chiếc khăn piêu “thêu chỉ hồng” đội trên đầu.
Không cầu kỳ, rực rỡ sắc màu như một số trang phục của các dân tộc khác, bộ y phục giản dị, trang nhã đã tôn lên vẻ đẹp mặn mà, duyên dáng của các thiếu nữ Thái.
Người Tây Bắc nói chung và người Thái nói riêng sống chân thật, hoà thuận. Trong bản cũng như trong gia đình ít khi to tiếng với nhau. Đặc biệt, hiếm khi thấy bố mẹ đánh đập con cái. Sống đoàn kết và thương yêu nhau là nét chủ đạo trong cuộc sống của người Thái. Tục ngữ Thái có câu:
"Một thân không thể ngồi trên nong tự nhấc, không thể ngồi trên gốc tự nhổ" (Phủ điều báu năng đổng hak nho, báu năng to hak cốn). Cho nên khi đói kém, bản Thái và các dân tộc anh em vùng Tây Bắc sẵn sàng chia sẻ lương thực cho nhau.
Có lẽ phải tiếp cận từ góc nhìn như thế thì mới lý giải nổi sự tồn tại trong hàng chục năm của các quán hàng tự giác trên khắp các nẻo đường Tây Bắc. Hay phải chăng, đó là hệ quả của một xã hội chưa biết đến thương nghiệp với vật ngang giá là đồng tiền?
< Sau khi nhuộm vải.
Vậy thì ta nên vui hay buồn đây khi mà những quán hàng tự giác như thế ngày nay chỉ còn tìm thấy trong những câu chuyện cổ tích?
Người Thái ngày nay vẫn hiếu khách. Chẳng cần biết lạ hay quen, thân hay sơ, khách đến nhà là được ngủ ở vị trí trang trọng với chăn mới, đệm mới do chính bàn tay khéo léo của các cô gái Thái làm nên.
Là con gái Thái thì không được phép ngừng tay làm vải và phải đạt đến độ tinh xảo: "Sấp đôi tay đã thành hoa văn, ngửa bàn tay đã thành hoa lá" (Khuổm mư pên lai, hai mư pên pok). Có lẽ cũng chính vì thế mà người Thái gọi bạn trăm năm là vợ con tay guồng sợi tơ.
Gái Thái đẹp nhưng siêng năng, khéo tay nhưng hiền thục. Nhà có khách, các cô gái Thái bẽn lẽn quỳ cả buổi để tiếp rượu. Khách hoặc chủ có lỡ say thì đó cũng là cái sự quá vui mà thôi. Gần đây, một vài người có chê trách tật uống rượu say của người Tây Bắc.
Thực ra đó không phải là tập quán. Uống rượu thì có, nhưng việc say xỉn thì ngay cả người Thái cũng lên án. Bởi vậy mới có câu: "Uống rượu đừng uống say, say nhiều thành vơ vất người đời cười chê" (Kin lảu nha mau lai, mau lai pên báng pa pươn tay hua nả). Nếu cứ trách như thế thì hoá ra ta đã hiểu nhầm lòng chân thành và hiếu khách của bà con mất rồi.
Phụ nữ nhóm người Thái đen khi đã kết hôn phải búi tóc trên đầu (tiếng Thái gọi là “tằng cẩu”), còn phụ nữ Thái trắng vẫn để tóc bình thường. Cùng với sản phẩm nổi tiếng là vải thổ cẩm với hoa văn độc đáo, màu sắc lộng lẫy và đệm gối, đệm chăn hoa bông lau bền, đẹp, dân tộc Thái còn có nhiều món ăn hấp dẫn như món “lam nhọ” (thịt gia súc, gia cầm nướng nhừ), “pỉnh tộp” (cá nướng), “pa giảng” (cá hun khói)...
Xôi nếp là món ăn truyền thống của dân tộc Thái. Món xôi nếp này được người Thái xôi bằng phương pháp cách thủy rất kỹ thuật. Xôi chín bằng hơi, mềm, dẻo và được đựng bằng ép khẩu hay giỏ nan nhỏ đậy kín, ủ ấm giữ cho xôi dẻo lâu mà vẫn lưu được mùi vị thơm và ăn ngon miệng.
< Gội đầu ven suối.
Dân tộc Thái vốn yêu chuộng ca hát. Vào những ngày lễ, tết, ngày hội, ngày vui, đồng bào vẫn quây quần bên nhau múa, hát rất say sưa, nhộn nhịp.
Hình ảnh những chàng trai, cô gái Thái nắm tay nhau, cùng vui điệu múa xòe chung quanh ngọn lửa hồng hay rộn ràng trong điệu múa sạp:
< Váy Mông.
“sòn sòn sòn đô sòn, sòn sòn sòn đô rê...” đã trở nên rất gần gũi, quen thuộc và trở thành vũ điệu đặc trưng của người dân Điện Biên nói riêng, đồng bào Tây Bắc nói chung.
Ai đã có cơ hội sống ở Tây Bắc chắc sẽ không bao giờ quên dược những kỷ niệm ngọt ngào mà núi rừng cùng con người ở đây mang lạ - nhũng ấn tượng khó phai.
Chuyện làm đẹp của thiếu nữ Thái Tây Bắc
< Con gái Thái da trắng như hoa ban, uyển chuyển với những đường cong tuyệt mỹ. Con gái Thái dịu dàng, hiền thục…
Một điểm chung lớn nhất của các dân tộc Tây Bắc khi làm đẹp là rất chú ý tới mái tóc, đội khăn, quần áo và đồ trang sức.
Người con gái Thái, ngay khi còn nhỏ đã được các bà, các mẹ dạy cách thắt “xài yêu” - thắt lưng bằng vải, để lớn lên các cô gái đều có thân hình “eo kíu manh po”, thắt đáy lưng con tò vò. Chính vì vậy khi trưởng thành, các cô gái Thái đều uyển chuyển với những đường cong tuyệt mỹ.
< Điệu múa xòe không thể tiếu trong văn hóa Mông.
Chiếc “xửa cỏm”, một loại áo chẽn dài tay mặc ngoài, bó sát người, cũng góp phần không nhỏ làm nên nét đẹp của người con gái Thái, vừa tôn eo lưng thon thả, vừa vun đầy bộ ngực thanh tân.
Ngay hàng cúc áo bằng bạc hình con bướm - “mák pém” cũng có tiếng nói và ý nghĩa nhân sinh tinh tế. Một bên là hàng cúc hình bướm đực, một bên là hàng bướm cái.
< Nhổ bông về độn gối.
Con gái chưa chồng hàng cúc mang số lẻ, con gái có chồng hàng cúc mang số chẵn. Váy của con gái Thái màu đen, mặt trong gấu váy táp vải màu rực rỡ. Mỗi bước đi chân váy thấp thoáng sắc màu, lượn sóng kín đáo mà duyên thầm. Nói tới vẻ đẹp trang phục của con gái Thái không thể không nói đến chiếc khăn piêu huyền thoại, được thêu những hoa văn, họa tiết mô phỏng tinh tế thiên nhiên, với những “cút piêu”, nút thắt trang trí và “xài peng”, tua vải màu hai đầu khăn nổi tiếng.
Khăn piêu được đội hờ hững trên đầu như cánh bướm dịu dàng trên nhành xuân. Mái tóc của người con gái Thái đen nhánh, xuôn dài mềm mại. Con gái Thái đen chưa chồng tóc búi sau gáy, có chồng tóc búi đỉnh đầu, gài trâm bạc - “tằng cẩu”. Ngày đầu về nhà chồng, bà mối và mẹ chồng dùng những sợi tóc của bà, của mẹ lựa gom sau mỗi lần chải để dành cho con trai khi lấy vợ, kết cùng tóc của cô dâu. Rồi còn vòng cổ, vòng tay, xà tích bằng bạc buông lơi bên hông. Tất cả làm nên một vẻ đẹp khỏe mạnh, thanh xuân, dịu dàng ý nhị.
Người Dao ở Tây Bắc có nhiều ngành khác nhau: Dao đỏ, còn gọi là Dao Sùng, Dao đại bản; Dao quần chẹt, còn gọi là Dao Nga hoàng, Dao Sơn đầu; Dao Quần trắng, Dao Làn tuyển… Sự khác nhau giữa các nhóm Dao chủ yếu ở trang phục.
Người Dao đỏ, khăn, quần áo được thêu cầu kỳ nhiều hoa văn, họa tiết, chủ yếu là hình vết hổ - “xiền trảo miên”, hình vết mèo - “lồm trảo miên, cây vạn hoa - “thổm pẹ”, một loại cây cao quí trong quan niệm của người Dao, hoa văn cách đoạn - “thày lẩy”… các tua len trên khăn được làm bằng nhiều màu, trang trí các họa tiết hình cây thông – “xỏm pẹ” và hoa bạc.
Trên áo bé mặc trong, họa tiết chủ yếu thêu ở cổ, ngực và lưng. Trên ngực áo bé đính những hoa bạc theo chiều dọc giữa áo.
Áo dài mặc ngoài được trang trí hai hàng quả bông đỏ, mỗi bên bảy quả và các tua len nơi xẻ tà. Tà áo và đầu ống tay trang trí các hình sôm, dấu chân hổ, viền răng cưa. Dây lưng được thêu ở hai đầu các hình sôm, hình dấu chân hổ, cây thông, hình thập ngoặc và hình người mặc váy.
Quần của người Dao đỏ được thêu rất tỷ mỉ, trang trí họa tiết ở nửa dưới ống quần với các họa tiết hình vuông, chữ nhật… bằng các màu rực rỡ.
< Cô gái Dao đỏ.
Hoa văn, họa tiết trên trang phục người phụ nữ Dao đỏ thật phong phú và đa dạng, là kết tinh từ quá trình lao động sáng tạo. Lấy cảm xúc từ thiên nhiên: cỏ cây hoa lá, động vật… cách điệu và thổi hồn, góp phần làm nên một vẻ đẹp độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc.
Du lịch, GO! - Tổng hợp
Qua Hoà Bình, qua cái nôi của văn hoá Mường với Bi-Thang-Vàng-Động, leo gần 100 km đèo nữa là tới cao nguyên Châu Mộc, cao 800-1.000 m. Lên tới đây là bước chân vào vùng Tây Bắc.
Vùng Tây Bắc là không gian văn hóa của dân tộc Thái, nổi tiếng với điệu múa xòe tiêu biểu là điệu múa xòe hoa rất nổi tiếng được nhiều người biết đến. Ngoài ra, còn khoảng 20 dân tộc khác như H'Mông, Nùng, Tày, Pà Thẻn, Mường, Lự, Hà Nhì, Dao...v.v... nhưng Thái là dân tộc có dân số lớn nhất vùng. Ai đã từng qua Tây Bắc khó có thể quên được hình ảnh những cô gái Thái với những bộ váy áo thật rực rỡ đặc trưng cho Tây Bắc.
< Ruộng bậc thang đã trở thành “thương hiệu” có tiếng của vùng Tây Bắc bởi vẻ đẹp quyến rũ, do sức lao động, sáng tạo của đồng bào trên những sườn núi dốc này.
Thực ra đây không phải là vùng đất mà người Thái đặt chân xuống đầu tiên trong cuộc thiên di của mình. Từ thế kỷ XI, theo dòng sông Hồng (Nậm Tao), người Thái đổ bộ xuống Nghĩa Lộ (Mường Lò) rồi từ đó con cháu của Tạo Xuông, Tạo Ngần tiến dần sang các vùng Sơn La, Điện Biên, giáp Lào. Đất ấy, tên Thái là Mường Theng tức là mường trời mà ngày nay chúng ta vẫn đọc trại ra thành Mường Thanh.
< Núi rừng, con người Tây bắc làm mê hoặc lòng người.
Lên tới Mộc Châu là nghe tiếng thông reo vi vút với rừng tre rừng vầu ngút ngàn trong sắc trắng hoa ban. Phải chăng chính vì thế mà châu Mộc có tên Thái là Trảng Tre, Trảng Ban (Phiêng Xang, Phiêng Ban)? ấy là nói những năm trước đây, chứ bây giờ hoa ban còn ít lắm.
Từ cao nguyên Mộc Châu đổ xuống thung lũng Yên Châu rồi vượt qua dãy Chiềng Đông đến Nà Sản về Sơn La không thấy hoa ban. .

< Cây ban, giống như cây sim rừng, nơi nào đất núi, đất sỏi là nơi đó ban mọc và nở nhiều hoa trắng đẹp. Con trai, con gái vùng Sơn La hẹn gặp nhau vào hội chơi núi hái hoa.
Từ Sơn La vượt hơn 30 cây số đèo Pha Đin, nơi ngăn cách giữa trời và đất, nơi bông hoa ban thấm đẫm trong từng câu dân ca Thái để đến Tuần Giáo. Cũng khó gặp hoa ban. Núi rừng hầm hập nóng trong gió Lào của đất Yên Châu, lạnh lẽo và cô quạnh trong mù sương trên đỉnh Pha Đin.

< Hoa ban là hoa của tình yêu, hoa của ước mơ trường thọ và là hoa của những con người trẻ mãi không già...
Đến lúc này, người ta mới thấy quý bóng cây ban. Hoa Ban mất đi không phải lỗi của người dân nơi đây. Người Thái bảo vệ rừng ban không chỉ vì nó là biểu tượng văn hoá của quê hương họ, mà còn vì chỉ có cây ban mới mọc được nơi đất cằn, độ dốc lớn.
Nhờ có cây ban giữ lại mùn mà đất cằn tái sinh, mà nước mưa ngấm vào lòng đất ngăn nhưng cơn lũ ống bất chợt tràn về. Cây ban không cho gỗ, cây ban đun cũng không cháy. Chỉ có bát canh hoa ban cho con trẻ được no lòng khi giáp hạt.< Tắm tiên giữa núi rừng là nét văn hóa không thể thiếu tại vùng cao Tây bắc.
Luật và tín ngưỡng tôn giáo của người Thái trước đây quy định, bản nào cũng có hai khu rừng hoang dại mang tên rừng kiêng (đông căm) hay rừng ma (đông phi) và một khu rừng cấm chặt phá để bản tổ chức "Ngày hội hái măng" (Há nó pá hẳm).
Vì không ai dám chặt phá nên đã giữ được rừng nguyên sinh. Chẳng riêng gì người Thái, cả người Mông trên núi cao, người Khơ Mú, Kháng, La Hả... trong rừng sâu đều tự nguyện tuân theo luật Thái. Bởi đó là quyền lợi lâu dài của tất cả các dân tộc trong vùng.Cây ban không còn, rừng cũng không còn, gió Lào như những lưỡi lửa vô hình quất vào đá núi. Chiếc khăn piêu rực rỡ không còn che đỡ nổi cái nắng lúc hạ về. Cô gái Thái bây giờ phải mang thêm cái nón của người xuôi.
Với những cô gái đã lập gia đình, đầu đã búi tóc (tẳng cẩu), đội cái nón vào trông rất ngộ. Nó mất hẳn đi sự cân đối nhưng vẫn đẹp; nó mong manh như mái nhà sàn chông chênh trên sườn núi, ai đó muốn chở che nhưng lại quá xa vời.< Cơm lam núi rừng Tây bắc.

Ai đã từng ngược ngàn lên vùng Tây Bắc, dừng chân tại mảnh đất Điện Biên và hòa mình vào cuộc sống, phong cảnh thiên nhiên nơi đây sẽ có thêm nhiều hình ảnh, kỷ niệm đẹp trong một chuyến đi.
Nhưng đến Điện Biên mà chưa một lần ngắm nhìn những cánh rừng ngập trắng hoa ban hay đến thăm một bản dân tộc Thái, thưởng thức một món ăn truyền thống của đồng bào Thái, hòa vào hội vui cùng nắm tay múa xòe, nhảy sạp với các thiếu nữ Thái thì coi như chưa đến Điện Biên.
< Trẻ em ở Tây bắc.
Dân tộc Thái có truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán lâu đời, đặc sắc. Nằm trong hệ ngôn ngữ Tày- Thái, người Thái còn có các tên gọi khác là Táy, Hàng Tổng, Pa Thay, Thổ Đà Bắc và có hai nhóm Thái đen, Thái trắng.
Phụ nữ Thái có bộ y phục rất độc đáo với chiếc áo cóm bó sát người đính hàng cúc bướm bằng bạc, chiếc váy dài chấm gót và chiếc khăn piêu “thêu chỉ hồng” đội trên đầu.
Không cầu kỳ, rực rỡ sắc màu như một số trang phục của các dân tộc khác, bộ y phục giản dị, trang nhã đã tôn lên vẻ đẹp mặn mà, duyên dáng của các thiếu nữ Thái.Người Tây Bắc nói chung và người Thái nói riêng sống chân thật, hoà thuận. Trong bản cũng như trong gia đình ít khi to tiếng với nhau. Đặc biệt, hiếm khi thấy bố mẹ đánh đập con cái. Sống đoàn kết và thương yêu nhau là nét chủ đạo trong cuộc sống của người Thái. Tục ngữ Thái có câu:
"Một thân không thể ngồi trên nong tự nhấc, không thể ngồi trên gốc tự nhổ" (Phủ điều báu năng đổng hak nho, báu năng to hak cốn). Cho nên khi đói kém, bản Thái và các dân tộc anh em vùng Tây Bắc sẵn sàng chia sẻ lương thực cho nhau.
Có lẽ phải tiếp cận từ góc nhìn như thế thì mới lý giải nổi sự tồn tại trong hàng chục năm của các quán hàng tự giác trên khắp các nẻo đường Tây Bắc. Hay phải chăng, đó là hệ quả của một xã hội chưa biết đến thương nghiệp với vật ngang giá là đồng tiền?
< Sau khi nhuộm vải.
Vậy thì ta nên vui hay buồn đây khi mà những quán hàng tự giác như thế ngày nay chỉ còn tìm thấy trong những câu chuyện cổ tích?
Người Thái ngày nay vẫn hiếu khách. Chẳng cần biết lạ hay quen, thân hay sơ, khách đến nhà là được ngủ ở vị trí trang trọng với chăn mới, đệm mới do chính bàn tay khéo léo của các cô gái Thái làm nên.
Là con gái Thái thì không được phép ngừng tay làm vải và phải đạt đến độ tinh xảo: "Sấp đôi tay đã thành hoa văn, ngửa bàn tay đã thành hoa lá" (Khuổm mư pên lai, hai mư pên pok). Có lẽ cũng chính vì thế mà người Thái gọi bạn trăm năm là vợ con tay guồng sợi tơ.Gái Thái đẹp nhưng siêng năng, khéo tay nhưng hiền thục. Nhà có khách, các cô gái Thái bẽn lẽn quỳ cả buổi để tiếp rượu. Khách hoặc chủ có lỡ say thì đó cũng là cái sự quá vui mà thôi. Gần đây, một vài người có chê trách tật uống rượu say của người Tây Bắc.
Thực ra đó không phải là tập quán. Uống rượu thì có, nhưng việc say xỉn thì ngay cả người Thái cũng lên án. Bởi vậy mới có câu: "Uống rượu đừng uống say, say nhiều thành vơ vất người đời cười chê" (Kin lảu nha mau lai, mau lai pên báng pa pươn tay hua nả). Nếu cứ trách như thế thì hoá ra ta đã hiểu nhầm lòng chân thành và hiếu khách của bà con mất rồi.
Phụ nữ nhóm người Thái đen khi đã kết hôn phải búi tóc trên đầu (tiếng Thái gọi là “tằng cẩu”), còn phụ nữ Thái trắng vẫn để tóc bình thường. Cùng với sản phẩm nổi tiếng là vải thổ cẩm với hoa văn độc đáo, màu sắc lộng lẫy và đệm gối, đệm chăn hoa bông lau bền, đẹp, dân tộc Thái còn có nhiều món ăn hấp dẫn như món “lam nhọ” (thịt gia súc, gia cầm nướng nhừ), “pỉnh tộp” (cá nướng), “pa giảng” (cá hun khói)...
Xôi nếp là món ăn truyền thống của dân tộc Thái. Món xôi nếp này được người Thái xôi bằng phương pháp cách thủy rất kỹ thuật. Xôi chín bằng hơi, mềm, dẻo và được đựng bằng ép khẩu hay giỏ nan nhỏ đậy kín, ủ ấm giữ cho xôi dẻo lâu mà vẫn lưu được mùi vị thơm và ăn ngon miệng.< Gội đầu ven suối.
Dân tộc Thái vốn yêu chuộng ca hát. Vào những ngày lễ, tết, ngày hội, ngày vui, đồng bào vẫn quây quần bên nhau múa, hát rất say sưa, nhộn nhịp.
Hình ảnh những chàng trai, cô gái Thái nắm tay nhau, cùng vui điệu múa xòe chung quanh ngọn lửa hồng hay rộn ràng trong điệu múa sạp:
< Váy Mông.
“sòn sòn sòn đô sòn, sòn sòn sòn đô rê...” đã trở nên rất gần gũi, quen thuộc và trở thành vũ điệu đặc trưng của người dân Điện Biên nói riêng, đồng bào Tây Bắc nói chung.
Ai đã có cơ hội sống ở Tây Bắc chắc sẽ không bao giờ quên dược những kỷ niệm ngọt ngào mà núi rừng cùng con người ở đây mang lạ - nhũng ấn tượng khó phai.
Chuyện làm đẹp của thiếu nữ Thái Tây Bắc
Một điểm chung lớn nhất của các dân tộc Tây Bắc khi làm đẹp là rất chú ý tới mái tóc, đội khăn, quần áo và đồ trang sức.
Người con gái Thái, ngay khi còn nhỏ đã được các bà, các mẹ dạy cách thắt “xài yêu” - thắt lưng bằng vải, để lớn lên các cô gái đều có thân hình “eo kíu manh po”, thắt đáy lưng con tò vò. Chính vì vậy khi trưởng thành, các cô gái Thái đều uyển chuyển với những đường cong tuyệt mỹ.
< Điệu múa xòe không thể tiếu trong văn hóa Mông.
Chiếc “xửa cỏm”, một loại áo chẽn dài tay mặc ngoài, bó sát người, cũng góp phần không nhỏ làm nên nét đẹp của người con gái Thái, vừa tôn eo lưng thon thả, vừa vun đầy bộ ngực thanh tân.
Ngay hàng cúc áo bằng bạc hình con bướm - “mák pém” cũng có tiếng nói và ý nghĩa nhân sinh tinh tế. Một bên là hàng cúc hình bướm đực, một bên là hàng bướm cái.
< Nhổ bông về độn gối.
Con gái chưa chồng hàng cúc mang số lẻ, con gái có chồng hàng cúc mang số chẵn. Váy của con gái Thái màu đen, mặt trong gấu váy táp vải màu rực rỡ. Mỗi bước đi chân váy thấp thoáng sắc màu, lượn sóng kín đáo mà duyên thầm. Nói tới vẻ đẹp trang phục của con gái Thái không thể không nói đến chiếc khăn piêu huyền thoại, được thêu những hoa văn, họa tiết mô phỏng tinh tế thiên nhiên, với những “cút piêu”, nút thắt trang trí và “xài peng”, tua vải màu hai đầu khăn nổi tiếng.
Khăn piêu được đội hờ hững trên đầu như cánh bướm dịu dàng trên nhành xuân. Mái tóc của người con gái Thái đen nhánh, xuôn dài mềm mại. Con gái Thái đen chưa chồng tóc búi sau gáy, có chồng tóc búi đỉnh đầu, gài trâm bạc - “tằng cẩu”. Ngày đầu về nhà chồng, bà mối và mẹ chồng dùng những sợi tóc của bà, của mẹ lựa gom sau mỗi lần chải để dành cho con trai khi lấy vợ, kết cùng tóc của cô dâu. Rồi còn vòng cổ, vòng tay, xà tích bằng bạc buông lơi bên hông. Tất cả làm nên một vẻ đẹp khỏe mạnh, thanh xuân, dịu dàng ý nhị.
Người Dao ở Tây Bắc có nhiều ngành khác nhau: Dao đỏ, còn gọi là Dao Sùng, Dao đại bản; Dao quần chẹt, còn gọi là Dao Nga hoàng, Dao Sơn đầu; Dao Quần trắng, Dao Làn tuyển… Sự khác nhau giữa các nhóm Dao chủ yếu ở trang phục.Người Dao đỏ, khăn, quần áo được thêu cầu kỳ nhiều hoa văn, họa tiết, chủ yếu là hình vết hổ - “xiền trảo miên”, hình vết mèo - “lồm trảo miên, cây vạn hoa - “thổm pẹ”, một loại cây cao quí trong quan niệm của người Dao, hoa văn cách đoạn - “thày lẩy”… các tua len trên khăn được làm bằng nhiều màu, trang trí các họa tiết hình cây thông – “xỏm pẹ” và hoa bạc.
Trên áo bé mặc trong, họa tiết chủ yếu thêu ở cổ, ngực và lưng. Trên ngực áo bé đính những hoa bạc theo chiều dọc giữa áo.Áo dài mặc ngoài được trang trí hai hàng quả bông đỏ, mỗi bên bảy quả và các tua len nơi xẻ tà. Tà áo và đầu ống tay trang trí các hình sôm, dấu chân hổ, viền răng cưa. Dây lưng được thêu ở hai đầu các hình sôm, hình dấu chân hổ, cây thông, hình thập ngoặc và hình người mặc váy.
Quần của người Dao đỏ được thêu rất tỷ mỉ, trang trí họa tiết ở nửa dưới ống quần với các họa tiết hình vuông, chữ nhật… bằng các màu rực rỡ.
< Cô gái Dao đỏ.
Hoa văn, họa tiết trên trang phục người phụ nữ Dao đỏ thật phong phú và đa dạng, là kết tinh từ quá trình lao động sáng tạo. Lấy cảm xúc từ thiên nhiên: cỏ cây hoa lá, động vật… cách điệu và thổi hồn, góp phần làm nên một vẻ đẹp độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc.
Du lịch, GO! - Tổng hợp
Chợ ở Tây bắc
May váy
Thiếu nữ Dao đỏ
Đường vào nhà
Tắm suối Tây bắc: nét văn hóa đang mất dần...
Váy Mông
Những thiếu nữ vùng cao.
Theo mẹ đi phiên chợ.
Tập tành
Nụ cười sơn cước
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)














































