Núi Lugu còn có nhiều tên khác như núi Lu Bu, Lú Mu...
Núi có độ cao 1.079m, trên đỉnh có một đỉnh đá lớn có thể nhìn thấy rõ từ QL20. Đây là ngọn núi cao nhất vùng Đạ Huoai thuộc tỉnh Lâm Đồng (Du lịch, GO!).
Bỏ lại sau lưng sự ồn ào, náo nhiệt của Sài Gòn, chúng tôi quyết định làm một chuyến phiêu lưu “đăng sơn” để khám phá ngọn núi có cái tên tức cười Lu Bu trên cao nguyên Bảo Lộc (Lâm Đồng).
Dừng lại một quán ăn dọc quốc lộ 20 để tìm người dẫn đường trong lúc ngoài trời mưa vẫn không ngừng rơi. “Trời mưa thế này đi nguy hiểm lắm” - cô Thắm, chủ quán, lo lắng.
Có người chen vào: “Cách đây không lâu đã có người chết trong lúc leo núi đó”, làm chúng tôi có phần chùn chân nhưng vẫn quyết tâm chinh phục ngọn núi huyền bí đang hiện ra trước tầm mắt.
< Lu Bu nhìn từ xa.
Đứng dưới chân núi, đỉnh Lu Bu hiện ra mờ ảo sau một làn mây trắng. Anh Võ Đình Thanh Vân - 47 tuổi, là một thợ đi rừng chuyên nghiệp - nhìn chúng tôi ái ngại: “Thư sinh như tụi em chắc leo nửa đường là bỏ cuộc rồi. Nhưng thôi, cứ đi cho biết cực biết khổ như thế nào”.
Muốn lên đỉnh phải băng qua ba ngọn đồi nằm dài nối tiếp nhau. Đây là những ngọn đồi với những tán rừng nguyên sinh vẫn còn đậm nét nên thu hút được sự tò mò khám phá của khá nhiều đoàn du khảo nước ngoài.
< Đỉnh núi Lu Bu là một tảng đá cao, to.
Cuộc hành trình băng qua nhiều con suối, trong đó có suối Lạnh. Nước ở đây trong, mát lạnh lạ thường và trở thành nguồn nước uống chính cho người đi rừng. Thỉnh thoảng anh Vân lại leo tuốt lên cây để nhắm đường đi cho đúng và gần hơn vì một số lối mòn đã bị cây rừng ngã che lấp.
Thiên nhiên ở đây thật hùng vĩ, cảnh núi non, rừng cây phủ kín, tiếng kêu hoang dại của muông thú... Đâu đó tiếng rì rào của thác, những làn hơi nước bốc lên tựa như những đám mây mờ ảo... Tất cả hòa quyện vào nhau tạo thành một cảnh tượng tuyệt mỹ, một bản hùng ca hùng vĩ của núi rừng.
< Ảnh do người dẫn đường chụp (Hư Trúc đang mon men phía sau).
Trời tạnh mưa. Những tia nắng bắt đầu len lỏi qua các tán lá rậm rạp. Vất vả gần sáu giờ leo núi với không dưới bốn lần nghỉ chân, chúng tôi cũng đến được đỉnh Lu Bu. Cảnh thật đẹp, thật hùng vĩ, ngoài sức tưởng tượng của chúng tôi. Một khối đá to, cao trên 50m chót vót ngay trên đỉnh núi.
Hoàng hôn đã buông dần xuống núi đá Lu Bu. Không gian vẫn rì rào tiếng thác đổ, tiếng kêu hoang dại của núi rừng.
Chúng tôi nhanh chân “hành quân” xuống núi để kịp trước khi nắng tắt hẳn. Mặt trời khuất dần sau dãy núi phía bên kia. Tất cả cảnh vật chuẩn bị nhường cho màn đêm dần ngự trị. Lu Bu kỳ ảo, hoang sơ là thế.
Lưu ý:
Bạn cần chuẩn bị áo mưa bộ, băng y tế cá nhân, lương khô, nước uống, giày thể thao, găng tay, thuốc dep, vài viên sủi bọt... và túi ngủ, lều trại (nếu ngủ đêm trên núi). Không nên ngồi, đứng lâu trên các thân cây gỗ mục để tránh bị rết cắn. Và điều quan trọng nhất là bạn cần thuê một người dẫn đường là người địa phương chuyên đi rừng vì rất dễ lạc.
Du lịch, GO! - Theo Hư Trúc Yume
Thứ Ba, 30 tháng 8, 2011
Madagoui - Đạ Tẻh: hành trình tìm thác và đèo... (Phần 20)
Ngay từ ngày đầu ở Madagui, mình đã nhận một cú phone ở Sàigon nhắn hẹn một cuộc gặp quan trọng vào bữa chiều ngày 15.8 - Do vậy bọn mình chắc chắn là hôm nay sẽ có mặt ở Sàigòn trước lúc 2h, không để lỡ hẹn.
Tuy nhiên: tối hôm qua khi ngồi thưởng thức món gỏi cuốn ven QL20, sau khi nghe bọn mình kể về những thác nước trong Đạ Tẻh thì anh chị chủ quán đã đề cập tới một cái thác rất gần nhưng chả mấy người biết. Theo anh chị thì thác ngay chân đèo Chuối là một thác hoang sơ, có những 9 tầng với nước đổ quanh năm.Thông tin lý thú này khiến bọn mình về nghỉ sớm hơn để mai cố gắng tranh thủ tìm hiểu một phen trước khi giã từ Madagui.
Chưa đầy 6h30 sáng, bọn mình đã ngồi trên chiếc Win với nai nịch gọn gàng hướng về đèo Chuối. Chưa có miếng gì trong bụng, đói cồn - lại còn thèm thuồng hương vị một ly cà phê nóng để đầu óc tỉnh táo... nhưng tạm gác qua một bên vì phải đua với thời gian.
Đến chân đèo phía thị trấn rồi dừng xe hỏi nhưng không ai biết, chạy thêm một đoạn nữa thì gặp một chị phụ nữ tròn xoe mắt nhìn rồi cũng chỉ "phía dưới kia, hơn 1km nữa. Nhưng trời sớm này vào lạnh và trơn, khó vào lắm"...
Lại chạy tiếp, nhìn ngược xuôi nhưng cũng chả thấy con đường mòn nào có thể dẫn vào thác. Loay hoay mãi rốt cuộc gần hết đèo nên quanh trở lại... và bọn mình tấp vô quán cóc này: Mình ly cà phê, gói snack - bà xã được phần nguyên trái sầu - sầu riêng đèo Chuối.
< Khung cảnh hay hay đối diện quán cóc.
Vừa uống vửa hỏi về cái thác 9 tầng đèo Chuối nhưng chả ai biết, pó tay - lên xe trở về, mất gần một giờ không hiệu quả. Nhưng Trời xui đất khiến: khi sắp đến chân đèo phía thị trấn thì gặp căn nhà nho nhỏ phía trước có chưng nhiều hủ măng ngâm chua - tấp vô hỏi thử thì chính là đây!
< Dòng nước trong vắt từ thác 9 tầng chảy ra.
Cái may cũng không hoàn toàn: theo một dì lớn tuổi ở đây thì vào thác phải đi bộ qua nhiều dốc cao, rất trơn trượt - vào ra mà có người dẫn cũng mất hơn 1 giờ còn lần mò thì chắc mất cả buổi.
Anh con trai lớn của dì có thể dẫn đường vào nhanh nhưng không có ở nhà, lần mò lại không có thời gian nên bọn này đành lỡ dịp khám phá thác 9 tầng đèo Chuối - đành quay về thôi.
Bạn muốn vào đây thì cứ hướng thẳng đến chân đèo Chuối - khi chạy ngang qua một chiếc cầu cống nhỏ (bên phải là núi, trái là đồng ruộng) thì gặp căn nhà có nhiều hủ măng ngâm phía trước (để trên kệ). Gởi xe tại đây rồi men theo lối mòn phía sau lên thác (cũng có thể thuê người dẫn). Cách thứ 2: men theo con suối nhỏ đi lên thác, cách này khó hơn do phải leo trèo nhiều.
Về ghé quán hủ tiếu đối diện trường THPT Đạ Huoai 1 làm một tô rồi vọt về khách sạn lấy hành lý, từ giã nơi này.
Tính ra, chuyến đi tạm gọi là bội thu do mình vượt 6 đèo, tìm thấy 3 thác hoang dã.
Nếu ở lại một ngày nữa thì bét nhất bọn mình cũng sẽ đến được 3 thác khác ở Đạ Pal, Đạ Kho và đèo Chuối...
Xem ra thì lòng tham không đáy nhỉ, he he...
< Đến địa phận Đồng Nai. Nhanh vì tỉnh này tiếp giáp với Lâm Đồng mà. Đường đoạn này loi nhoi ổ gà, chạy cứ lưng tưng...
Đồng Nai là tỉnh miền Đông Nam Bộ, cửa ngõ phía đông của Tp. Hồ Chí Minh, phía bắc giáp Lâm Đồng, phía đông giáp Bình Thuận, phía tây giáp Bình Dương, Bình Phước và Tp. Hồ Chí Minh, phía nam giáp Bà Rịa - Vũng Tàu.
< Cây xăng Nam Cát Tiên xem ra khá đẹp, "giao diện" phù hợp với thiên nhiên.
Tỉnh Đồng Nai nằm trên lưu vực sông Đồng Nai và một nhánh của nó là sông La Ngà, có sông Lá Buông chảy qua, có nhà máy thủy điện Trị An...
Địa hình Đồng Nai gồm một số thung lũng, đồng bằng, gò, đồi thấp, tuy nhiên phần đất tiếp giáp với cao nguyên Lâm Viên và Di Linh thì tương đối cao.
< Quốc lộ 20, lúc này không nhiều xe lắm.
Đồng Nai có nhiều điểm du lịch có thể kể như thác Giang Điền, thác Ba Giọt, thác Trị An đảo Ó, mộ cổ Hang Gòn, thác Mai, khu du lịch Bửu Long, rừng Quốc Gia Nam Cát Tiên...
< Chùa Linh Phú, cổng trông như khu du lịch Suối Tiên.
< Đối diện là nhà thờ Phú Lâm: đâu cũng có đôi có cặp...
Riêng thắng cảnh tâm linh thì có nhiều chùa nổi tiếng như thiền viện Thường Chiếu, Phật tích Tòng lâm... cùng nhiều nhà thờ xứ đạo lớn nhất là tại khu vực Cát Tiên, Phương Lâm, Hố Nai...
< Một nhà thờ khác.
< Chợ Phương Lâm.
Phương Lâm có hồ Đa Tôn nằm giữa những dãi đồi trùng điệp cây rừng. Dù hồ chứa nước nhân tạo nhưng vẫn được xem là "viên ngọc bích" giữa núi rừng Tân Phú. Đứng bên bờ hồ nhìn về phía những ngọn đồi xa xa, từng dải mây bềnh bồng, tản mát trên những cánh rừng ngút ngàn màu xanh. Vào những ngày nắng đẹp, mặt trời tỏa ánh vàng óng ả xuống hồ, mặt nước như một tấm thảm bạc với vô số ánh hào quang lấp lánh.
< Cổng chào huyện Tân Phú.
... Chiều xuống, nền trời nhuộm tím sắc màu huyền hoặc, đàn chim rủ nhau về núi, những chiếc thuyền nhẹ nhàng rời đảo, bóng những thôn nữ dịu dàng và chăm chỉ lả lướt theo con thuyền. Hồ Đa Tôn còn có cồn đất rộng đến 2ha nổi lên giữa hồ: những chuyến vui chơi, cắm trại ở đây bao giờ cũng tạo một bầu không khí sôi động nhưng hoang dã và bình yên.
< Rời khỏi trung tâm thị trấn Tân Phú.
< Tận dụng cả mép đường trồng bắp, phía trong là rừng Giá Tị thuộc nhóm gỗ quý.
< Trạm thu phí.
Nắng nhiều... và dĩ nhiên là không còn cái tiết se se lạnh, rời miền cao nguyên rồi còn đâu.
< Vào thị trấn Định Quán.
< Công viên Đá 3 Chồng phía phải đường. Mé trái cũng có nhưng bị nhà dân xâm lấn, cáp điện thoại vây quanh...
Khu danh thắng Đá 3 Chồng là một cảnh đẹp của tỉnh Đồng Nai, cũng là nơi để du khách có thể đến tham quan, chiêm ngưỡng và nghiên cứu khảo cổ về di chỉ văn hóa Óc Eo. Đó là một quần thể núi đá có dáng vẻ đẹp và kỳ lạ.
Với ba hòn đá nằm chồng lên nhau khá chông chênh ở độ cao 36m, hòn Ba Chồng nằm sát quốc lộ 20 về phía đông bắc như một tượng đài kỳ vĩ trước gió sương. Hòn đá dưới cùng lớn gấp đôi hai hòn nằm trên, hòn trên cùng thì nằm chìa ra bên ngoài tưởng chừng như muốn đổ xuống bất kỳ lúc nào. Dáng hình kỳ lạ này đã làm ngạc nhiên biết bao khách tham quan dừng chân lại khu di tích.
Về phía Tây bắc quần thể Đá Chồng là cụm núi có hình dáng rất độc đáo với tên gọi: Hòn Dĩa. Hòn Dĩa có hình tròn không đều, nằm trên một tảng đá nhỏ hơn nhiều lần, tựa như mong manh dễ vỡ nhưng khá vững chắc, có độ cao 43m so với mặt đất. Cụm núi có nhiều tảng đá công kênh vào nhau, nhiều cây cối mọc um tùm tạo nên những hang động đầy vẻ huyền bí, làm cho ta có cảm giác cây và đá tìm mọi cách vươn lên để tìm hơi thở sinh tồn...
< Ngõ vào thác Mai.
Gọi là thác Mai vì dọc theo thác có rất nhiều mai - còn người dân tộc Mạ tại đây gọi thác là Liêng Dur, có nghĩa là ngọn thác lớn, hùng vĩ.
Từ chân nhìn lên, thác Mai như con rồng khổng lồ đang vùng vẫy làm rung động cả một vùng núi rừng. Song nếu nhìn gần, sẽ phát hiện bí mật của con rồng ấy do những cụm đá liên hoàn, nhấp nhô tạo nên những con đập tự nhiên, khiến dòng chảy lúc buông lơi, lúc uốn lượn trải dài 4km tạo thành. Cũng vì điều này, thác Mai giống chuỗi ghềnh hơn giống thác.
< Từ đoạn này trở đi bắt đầu đổ dốc dài dài: miền cao xuống bình nguyên mà.
< Đổ dốc dài, gió vi vút bên tay... nhưng đừng vượt quá tốc độ kẻo bị thổi còi.
Làng bè trên sông La Ngà đã trở thành nét đặc trưng của huyện Ðịnh Quán, tỉnh Ðồng Nai.
Khách đi Ðà Lạt trên quốc lộ 20 khi đi qua đây, có thể thấy làng bè La Ngà là một cảnh quan đặc biệt, đẹp mắt, vội ghi lại một vài tấm ảnh.
< Hai bên vẫn là đồi và cây rừng...
< Xe vẫn chạy ngọt ngào và thường gặp các dốc dài, độ cao so với mặt nước biển dần giảm xuống.
< Đường vắng ngoại trừ khi đến các thị trấn. Cũng không gặp CSGT nên không thấy cảnh mà các lái xe trẻ thường nói về tiếng còi của những người "giữ đường".
< Hơn 10h, có lẽ sắp đến Phú Túc.
< Bạt ngàn rừng cao su phía xa xa. Mé phải là lổn ngổn các quán ăn nghỉ cho khách đường xa.
Chạy thêm một đoạn nữa thì bọn mình tình cờ ghé vào một nơi hay hay, một vườn đá có tên là Nguyễn Gia Trang...
Còn tiếp
Điền Gia Dũng
Phần 1 - Phần 2 - Phần 3 - Phần 4 - Phần 5 - Phần 6 - Phần 7 - Phần 8 - Phần 9 - Phần 10 - Phần 11 - Phần 12 - Phần 13 - Phần 14 - Phần 15 - Phần 16 - Phần 17 - Phần 18 - Phần 19 - Phần 20 - Phần 21
Tuy nhiên: tối hôm qua khi ngồi thưởng thức món gỏi cuốn ven QL20, sau khi nghe bọn mình kể về những thác nước trong Đạ Tẻh thì anh chị chủ quán đã đề cập tới một cái thác rất gần nhưng chả mấy người biết. Theo anh chị thì thác ngay chân đèo Chuối là một thác hoang sơ, có những 9 tầng với nước đổ quanh năm.Thông tin lý thú này khiến bọn mình về nghỉ sớm hơn để mai cố gắng tranh thủ tìm hiểu một phen trước khi giã từ Madagui.
Chưa đầy 6h30 sáng, bọn mình đã ngồi trên chiếc Win với nai nịch gọn gàng hướng về đèo Chuối. Chưa có miếng gì trong bụng, đói cồn - lại còn thèm thuồng hương vị một ly cà phê nóng để đầu óc tỉnh táo... nhưng tạm gác qua một bên vì phải đua với thời gian.
Đến chân đèo phía thị trấn rồi dừng xe hỏi nhưng không ai biết, chạy thêm một đoạn nữa thì gặp một chị phụ nữ tròn xoe mắt nhìn rồi cũng chỉ "phía dưới kia, hơn 1km nữa. Nhưng trời sớm này vào lạnh và trơn, khó vào lắm"...
Lại chạy tiếp, nhìn ngược xuôi nhưng cũng chả thấy con đường mòn nào có thể dẫn vào thác. Loay hoay mãi rốt cuộc gần hết đèo nên quanh trở lại... và bọn mình tấp vô quán cóc này: Mình ly cà phê, gói snack - bà xã được phần nguyên trái sầu - sầu riêng đèo Chuối.
< Khung cảnh hay hay đối diện quán cóc.
Vừa uống vửa hỏi về cái thác 9 tầng đèo Chuối nhưng chả ai biết, pó tay - lên xe trở về, mất gần một giờ không hiệu quả. Nhưng Trời xui đất khiến: khi sắp đến chân đèo phía thị trấn thì gặp căn nhà nho nhỏ phía trước có chưng nhiều hủ măng ngâm chua - tấp vô hỏi thử thì chính là đây!
< Dòng nước trong vắt từ thác 9 tầng chảy ra.
Cái may cũng không hoàn toàn: theo một dì lớn tuổi ở đây thì vào thác phải đi bộ qua nhiều dốc cao, rất trơn trượt - vào ra mà có người dẫn cũng mất hơn 1 giờ còn lần mò thì chắc mất cả buổi.
Anh con trai lớn của dì có thể dẫn đường vào nhanh nhưng không có ở nhà, lần mò lại không có thời gian nên bọn này đành lỡ dịp khám phá thác 9 tầng đèo Chuối - đành quay về thôi.
Bạn muốn vào đây thì cứ hướng thẳng đến chân đèo Chuối - khi chạy ngang qua một chiếc cầu cống nhỏ (bên phải là núi, trái là đồng ruộng) thì gặp căn nhà có nhiều hủ măng ngâm phía trước (để trên kệ). Gởi xe tại đây rồi men theo lối mòn phía sau lên thác (cũng có thể thuê người dẫn). Cách thứ 2: men theo con suối nhỏ đi lên thác, cách này khó hơn do phải leo trèo nhiều.
Về ghé quán hủ tiếu đối diện trường THPT Đạ Huoai 1 làm một tô rồi vọt về khách sạn lấy hành lý, từ giã nơi này.
Tính ra, chuyến đi tạm gọi là bội thu do mình vượt 6 đèo, tìm thấy 3 thác hoang dã.
Nếu ở lại một ngày nữa thì bét nhất bọn mình cũng sẽ đến được 3 thác khác ở Đạ Pal, Đạ Kho và đèo Chuối...
Xem ra thì lòng tham không đáy nhỉ, he he...
< Đến địa phận Đồng Nai. Nhanh vì tỉnh này tiếp giáp với Lâm Đồng mà. Đường đoạn này loi nhoi ổ gà, chạy cứ lưng tưng...
Đồng Nai là tỉnh miền Đông Nam Bộ, cửa ngõ phía đông của Tp. Hồ Chí Minh, phía bắc giáp Lâm Đồng, phía đông giáp Bình Thuận, phía tây giáp Bình Dương, Bình Phước và Tp. Hồ Chí Minh, phía nam giáp Bà Rịa - Vũng Tàu.
< Cây xăng Nam Cát Tiên xem ra khá đẹp, "giao diện" phù hợp với thiên nhiên.
Tỉnh Đồng Nai nằm trên lưu vực sông Đồng Nai và một nhánh của nó là sông La Ngà, có sông Lá Buông chảy qua, có nhà máy thủy điện Trị An...
Địa hình Đồng Nai gồm một số thung lũng, đồng bằng, gò, đồi thấp, tuy nhiên phần đất tiếp giáp với cao nguyên Lâm Viên và Di Linh thì tương đối cao.
< Quốc lộ 20, lúc này không nhiều xe lắm.
Đồng Nai có nhiều điểm du lịch có thể kể như thác Giang Điền, thác Ba Giọt, thác Trị An đảo Ó, mộ cổ Hang Gòn, thác Mai, khu du lịch Bửu Long, rừng Quốc Gia Nam Cát Tiên...
< Chùa Linh Phú, cổng trông như khu du lịch Suối Tiên.
< Đối diện là nhà thờ Phú Lâm: đâu cũng có đôi có cặp...
Riêng thắng cảnh tâm linh thì có nhiều chùa nổi tiếng như thiền viện Thường Chiếu, Phật tích Tòng lâm... cùng nhiều nhà thờ xứ đạo lớn nhất là tại khu vực Cát Tiên, Phương Lâm, Hố Nai...
< Một nhà thờ khác.
< Chợ Phương Lâm.
Phương Lâm có hồ Đa Tôn nằm giữa những dãi đồi trùng điệp cây rừng. Dù hồ chứa nước nhân tạo nhưng vẫn được xem là "viên ngọc bích" giữa núi rừng Tân Phú. Đứng bên bờ hồ nhìn về phía những ngọn đồi xa xa, từng dải mây bềnh bồng, tản mát trên những cánh rừng ngút ngàn màu xanh. Vào những ngày nắng đẹp, mặt trời tỏa ánh vàng óng ả xuống hồ, mặt nước như một tấm thảm bạc với vô số ánh hào quang lấp lánh.
< Cổng chào huyện Tân Phú.
... Chiều xuống, nền trời nhuộm tím sắc màu huyền hoặc, đàn chim rủ nhau về núi, những chiếc thuyền nhẹ nhàng rời đảo, bóng những thôn nữ dịu dàng và chăm chỉ lả lướt theo con thuyền. Hồ Đa Tôn còn có cồn đất rộng đến 2ha nổi lên giữa hồ: những chuyến vui chơi, cắm trại ở đây bao giờ cũng tạo một bầu không khí sôi động nhưng hoang dã và bình yên.
< Rời khỏi trung tâm thị trấn Tân Phú.
< Tận dụng cả mép đường trồng bắp, phía trong là rừng Giá Tị thuộc nhóm gỗ quý.
< Trạm thu phí.
Nắng nhiều... và dĩ nhiên là không còn cái tiết se se lạnh, rời miền cao nguyên rồi còn đâu.
< Vào thị trấn Định Quán.
< Công viên Đá 3 Chồng phía phải đường. Mé trái cũng có nhưng bị nhà dân xâm lấn, cáp điện thoại vây quanh...
Khu danh thắng Đá 3 Chồng là một cảnh đẹp của tỉnh Đồng Nai, cũng là nơi để du khách có thể đến tham quan, chiêm ngưỡng và nghiên cứu khảo cổ về di chỉ văn hóa Óc Eo. Đó là một quần thể núi đá có dáng vẻ đẹp và kỳ lạ.
Với ba hòn đá nằm chồng lên nhau khá chông chênh ở độ cao 36m, hòn Ba Chồng nằm sát quốc lộ 20 về phía đông bắc như một tượng đài kỳ vĩ trước gió sương. Hòn đá dưới cùng lớn gấp đôi hai hòn nằm trên, hòn trên cùng thì nằm chìa ra bên ngoài tưởng chừng như muốn đổ xuống bất kỳ lúc nào. Dáng hình kỳ lạ này đã làm ngạc nhiên biết bao khách tham quan dừng chân lại khu di tích.
Về phía Tây bắc quần thể Đá Chồng là cụm núi có hình dáng rất độc đáo với tên gọi: Hòn Dĩa. Hòn Dĩa có hình tròn không đều, nằm trên một tảng đá nhỏ hơn nhiều lần, tựa như mong manh dễ vỡ nhưng khá vững chắc, có độ cao 43m so với mặt đất. Cụm núi có nhiều tảng đá công kênh vào nhau, nhiều cây cối mọc um tùm tạo nên những hang động đầy vẻ huyền bí, làm cho ta có cảm giác cây và đá tìm mọi cách vươn lên để tìm hơi thở sinh tồn...
< Ngõ vào thác Mai.
Gọi là thác Mai vì dọc theo thác có rất nhiều mai - còn người dân tộc Mạ tại đây gọi thác là Liêng Dur, có nghĩa là ngọn thác lớn, hùng vĩ.
Từ chân nhìn lên, thác Mai như con rồng khổng lồ đang vùng vẫy làm rung động cả một vùng núi rừng. Song nếu nhìn gần, sẽ phát hiện bí mật của con rồng ấy do những cụm đá liên hoàn, nhấp nhô tạo nên những con đập tự nhiên, khiến dòng chảy lúc buông lơi, lúc uốn lượn trải dài 4km tạo thành. Cũng vì điều này, thác Mai giống chuỗi ghềnh hơn giống thác.
< Từ đoạn này trở đi bắt đầu đổ dốc dài dài: miền cao xuống bình nguyên mà.
< Đổ dốc dài, gió vi vút bên tay... nhưng đừng vượt quá tốc độ kẻo bị thổi còi.
Làng bè trên sông La Ngà đã trở thành nét đặc trưng của huyện Ðịnh Quán, tỉnh Ðồng Nai.
Khách đi Ðà Lạt trên quốc lộ 20 khi đi qua đây, có thể thấy làng bè La Ngà là một cảnh quan đặc biệt, đẹp mắt, vội ghi lại một vài tấm ảnh.
< Hai bên vẫn là đồi và cây rừng...
< Xe vẫn chạy ngọt ngào và thường gặp các dốc dài, độ cao so với mặt nước biển dần giảm xuống.
< Đường vắng ngoại trừ khi đến các thị trấn. Cũng không gặp CSGT nên không thấy cảnh mà các lái xe trẻ thường nói về tiếng còi của những người "giữ đường".
< Hơn 10h, có lẽ sắp đến Phú Túc.
< Bạt ngàn rừng cao su phía xa xa. Mé phải là lổn ngổn các quán ăn nghỉ cho khách đường xa.
Chạy thêm một đoạn nữa thì bọn mình tình cờ ghé vào một nơi hay hay, một vườn đá có tên là Nguyễn Gia Trang...
Còn tiếp
Điền Gia Dũng
Phần 1 - Phần 2 - Phần 3 - Phần 4 - Phần 5 - Phần 6 - Phần 7 - Phần 8 - Phần 9 - Phần 10 - Phần 11 - Phần 12 - Phần 13 - Phần 14 - Phần 15 - Phần 16 - Phần 17 - Phần 18 - Phần 19 - Phần 20 - Phần 21
Kỳ lạ những mó nước ở Hòa Bình
Một con trâu đá to như thật nằm dưới mó nước hay một khúc cây nhội cứ nhấc lên bờ là mó hết nước không khỏi làm du khách kinh ngạc.
“Trâu thần” dưới mó nước
< Thung lũng Mai Châu.
Xóm Vãng nằm yên bình dưới thung lũng Mai Châu. Những nóc nhà sàn của người Thái ẩn hiện trong những lùm cây. Cả xóm đều dùng chung một mó nước, lúc chúng tôi đến có người đang hì hụi giặt quần áo, có người rửa xe, ở góc có mấy cô gái đang gội đầu trong làn nước mát.
Những người dân ở đây cho biết, khắp cả vùng Mai Hạ, mó nước này trong nhất, nước mát nhất. Sở dĩ như vậy vì ở mé nước chảy ra có một con trâu đá đứng cạnh. Hai cái sừng trâu, đầu trâu ẩn hiện trong làn nước.
< Mó nước ở xóm Vãng vẫn được người dân sử dụng hàng ngày.
Ông Hà Trọng Xuân (72 tuổi) cho biết: các cụ ngày xưa bảo rằng, chính vì có con trâu đá trong mó nước mà trâu của xóm Vãng ngày xưa dữ tợn lắm, húc chết không biết là bao nhiêu con trâu của các xóm khác. Người dân ở chỗ khác uất ức quá không biết làm thế nào, bèn bí mật nửa đêm dùng thuổng đục mất một sừng bên trái. Sau đó trâu bớt dữ tợn đi nhưng vẫn còn hung hăng lắm.
< Trâu đá nằm trong mó nước.
Ngày trước, con trâu đá to như một con trâu mộng thật, chỉ có cái đầu với sừng lộ ra ngoài, còn phần bụng nằm trong hang núi. Những thăn xương sườn đều lộ ra rất rõ.
Năm 1958, giặc Mỹ đánh phá ác liệt nên người ta phải làm đường tránh đi qua mó nước. Con trâu đá bị cho nổ mìn chỉ còn lại phần bụng. Mãi vừa rồi, các cụ cao niên mới bàn nhau đắp lại đầu trâu bằng xi măng.
< Phía trên mó nước có một hang động.
Theo lời ông Xuân thì trâu đá này thiêng lắm, rất ít người giám mạo phạm vì sợ thần đá, thần nước đánh chết. Mùa hạ, mó nước này không bao giờ cạn nước, nước mát lạnh trong xanh. Mùa đông, có những ngày nhiệt độ rất thấp nhưng nước rất ấm.
Khúc gỗ nhội kỳ lạ
Trên đỉnh cao nhất của huyện Lạc Sơn, toàn núi đá, nước chỉ tồn tại duy nhất ở “mó nước thần” xã Ngọc Lâu. Mó chỉ rộng chừng 6 - 7 mét vuông nằm ở bản Khộp, nhưng chưa một lần bị cạn, dù được cả 4 bản với hàng nghìn nhân khẩu dùng ngày đêm, lại múc tưới cho rau.
< Bản Khộp nằm trên vùng núi cao của huyện Lạc Sơn.
Cụ Bùi Văn Beo là một trong những người già nhất bản Khộp, bảo: “tôi sinh ra và lớn lên đã có giếng nước và gốc cây ấy rồi. Nghe các cụ kể thì từ những ngày xa xưa trên rừng Ngọc Sơn có một cây nhội to lắm, tán rộng che cả bầu trời của cả 3 xã vùng cao. Một lần mưa bão, cây đổ, ngọn cây rơi xuống bản Khộp, lập tức chỗ đó một mạch nước rất mạnh phun lên đó chính là chỗ mó nước bây giờ. Điều kỳ lạ là nếu không có khúc cây ở trong giếng thì nước sẽ cạn”.
< Mó nước lúc nào cũng trong xanh.
Năm 1996, bằng nguồn vốn hỗ trợ của UNICEF thực hiện chương trình nước sạch. Giếng nước bản Khộp được đầu tư cải tạo. Trong quá trình cải tạo, nạo vét xây thành, người ta đã nhấc khúc gỗ dưới mó vứt lên bờ. Chỉ qua một đêm, mó nước cạn hết sạch. Không có nước sinh hoạt, hơn trăm hộ dân ở bản Khộp phải tìm lại khúc gỗ để vào chỗ cũ. Lạ thay, từ lúc để khúc gỗ vào vị trí ban đầu, mó có nước trở lại. Chỉ qua một đêm, mó nước lại đầy tràn như cũ.
< Những tia nước phun lên rất mạnh nhưng chỉ cần nhấc khúc gỗ ra là mó cạn nước.
Khúc gỗ dưới mó nước bản Khộp đã tồn tại hàng trăm năm nay, nhưng khi vớt lên vẫn cứng như thép. Chặt vào mẻ cả rìu. Cụ Bùi Văn Én cho hay: "người nào làm bẩn giếng chắc chắn sẽ bị trừng phạt, có người đến giếng chửi thề và ngay lập tức bị... méo mồm. Gia đình đưa nạn nhân đi các thầy lang nhưng không ai chữa khỏi, cuối cùng phải về thắp hương xin lỗi thần giếng và múc nước cho uống thì bệnh tình mới thuyên giảm”.
< Một cây nhội trên cánh đồng Ngọc Lâu, loại gỗ được cho là nằm dưới đáy mó nước bản Khộp.
Không biết những câu chuyện ấy thực hư đến đâu nhưng tất cả người Mường ở bản Khộp nói riêng và người dân xã Ngọc Lâu đều coi đó là biểu tượng linh thiêng nhất của người Mường bản địa và là nguồn sống của người dân vùng núi đá này.
Du lịch, GO! - Theo Afamily
“Trâu thần” dưới mó nước
< Thung lũng Mai Châu.
Xóm Vãng nằm yên bình dưới thung lũng Mai Châu. Những nóc nhà sàn của người Thái ẩn hiện trong những lùm cây. Cả xóm đều dùng chung một mó nước, lúc chúng tôi đến có người đang hì hụi giặt quần áo, có người rửa xe, ở góc có mấy cô gái đang gội đầu trong làn nước mát.
Những người dân ở đây cho biết, khắp cả vùng Mai Hạ, mó nước này trong nhất, nước mát nhất. Sở dĩ như vậy vì ở mé nước chảy ra có một con trâu đá đứng cạnh. Hai cái sừng trâu, đầu trâu ẩn hiện trong làn nước.
< Mó nước ở xóm Vãng vẫn được người dân sử dụng hàng ngày.
Ông Hà Trọng Xuân (72 tuổi) cho biết: các cụ ngày xưa bảo rằng, chính vì có con trâu đá trong mó nước mà trâu của xóm Vãng ngày xưa dữ tợn lắm, húc chết không biết là bao nhiêu con trâu của các xóm khác. Người dân ở chỗ khác uất ức quá không biết làm thế nào, bèn bí mật nửa đêm dùng thuổng đục mất một sừng bên trái. Sau đó trâu bớt dữ tợn đi nhưng vẫn còn hung hăng lắm.
< Trâu đá nằm trong mó nước.
Ngày trước, con trâu đá to như một con trâu mộng thật, chỉ có cái đầu với sừng lộ ra ngoài, còn phần bụng nằm trong hang núi. Những thăn xương sườn đều lộ ra rất rõ.
Năm 1958, giặc Mỹ đánh phá ác liệt nên người ta phải làm đường tránh đi qua mó nước. Con trâu đá bị cho nổ mìn chỉ còn lại phần bụng. Mãi vừa rồi, các cụ cao niên mới bàn nhau đắp lại đầu trâu bằng xi măng.
< Phía trên mó nước có một hang động.
Theo lời ông Xuân thì trâu đá này thiêng lắm, rất ít người giám mạo phạm vì sợ thần đá, thần nước đánh chết. Mùa hạ, mó nước này không bao giờ cạn nước, nước mát lạnh trong xanh. Mùa đông, có những ngày nhiệt độ rất thấp nhưng nước rất ấm.
Khúc gỗ nhội kỳ lạ
Trên đỉnh cao nhất của huyện Lạc Sơn, toàn núi đá, nước chỉ tồn tại duy nhất ở “mó nước thần” xã Ngọc Lâu. Mó chỉ rộng chừng 6 - 7 mét vuông nằm ở bản Khộp, nhưng chưa một lần bị cạn, dù được cả 4 bản với hàng nghìn nhân khẩu dùng ngày đêm, lại múc tưới cho rau.
< Bản Khộp nằm trên vùng núi cao của huyện Lạc Sơn.
Cụ Bùi Văn Beo là một trong những người già nhất bản Khộp, bảo: “tôi sinh ra và lớn lên đã có giếng nước và gốc cây ấy rồi. Nghe các cụ kể thì từ những ngày xa xưa trên rừng Ngọc Sơn có một cây nhội to lắm, tán rộng che cả bầu trời của cả 3 xã vùng cao. Một lần mưa bão, cây đổ, ngọn cây rơi xuống bản Khộp, lập tức chỗ đó một mạch nước rất mạnh phun lên đó chính là chỗ mó nước bây giờ. Điều kỳ lạ là nếu không có khúc cây ở trong giếng thì nước sẽ cạn”.
< Mó nước lúc nào cũng trong xanh.
Năm 1996, bằng nguồn vốn hỗ trợ của UNICEF thực hiện chương trình nước sạch. Giếng nước bản Khộp được đầu tư cải tạo. Trong quá trình cải tạo, nạo vét xây thành, người ta đã nhấc khúc gỗ dưới mó vứt lên bờ. Chỉ qua một đêm, mó nước cạn hết sạch. Không có nước sinh hoạt, hơn trăm hộ dân ở bản Khộp phải tìm lại khúc gỗ để vào chỗ cũ. Lạ thay, từ lúc để khúc gỗ vào vị trí ban đầu, mó có nước trở lại. Chỉ qua một đêm, mó nước lại đầy tràn như cũ.
< Những tia nước phun lên rất mạnh nhưng chỉ cần nhấc khúc gỗ ra là mó cạn nước.
Khúc gỗ dưới mó nước bản Khộp đã tồn tại hàng trăm năm nay, nhưng khi vớt lên vẫn cứng như thép. Chặt vào mẻ cả rìu. Cụ Bùi Văn Én cho hay: "người nào làm bẩn giếng chắc chắn sẽ bị trừng phạt, có người đến giếng chửi thề và ngay lập tức bị... méo mồm. Gia đình đưa nạn nhân đi các thầy lang nhưng không ai chữa khỏi, cuối cùng phải về thắp hương xin lỗi thần giếng và múc nước cho uống thì bệnh tình mới thuyên giảm”.
< Một cây nhội trên cánh đồng Ngọc Lâu, loại gỗ được cho là nằm dưới đáy mó nước bản Khộp.
Không biết những câu chuyện ấy thực hư đến đâu nhưng tất cả người Mường ở bản Khộp nói riêng và người dân xã Ngọc Lâu đều coi đó là biểu tượng linh thiêng nhất của người Mường bản địa và là nguồn sống của người dân vùng núi đá này.
Du lịch, GO! - Theo Afamily
Thành Nhà Mạc (Lạng Sơn) - Di tích lịch sử cấp quốc gia
Thành Nhà Mạc nằm trong khu vực phường Tam Thanh, Thành phố Lạng Sơn, là di tích kiến trúc quân sự phản ánh thời kỳ phong kiến Việt Nam.
Theo những tư liệu còn lại thì thành là một căn cứ quân sự hiểm yếu chắn con đường độc đạo nối từ Ải Bắc xuống phía Nam đo Mạc Kính Cung xây dựng vào thế kỷ XVI làm căn cứ chống lại Lê - Trịnh.
Dấu tích hiện nay còn lại gồm 2 đoạn tường dài khoảng 300m, mặt thành rộng khoảng 1m, xây bằng những khối đá lớn giữa hẻm núi, tuy được gia cố, trùng tu, nhưng vẫn giữ được dấu vết hoang phế điêu tàn, để khi đứng trong bóng tịch dương nhìn ngắm phong cảnh có một chút bâng khuâng nghĩ về lối xưa xe ngựa.
Đoạn đường từ chân đồi lên cổng thành giờ là nhiều bậc cấp thẳng tắp, ngước trông cổng thành như xa hun hút, nhỏ bé lại...
Lên đến nơi thấy khung cảnh thật thoáng đãng. Đứng bên trong nhìn ra càng nhận rõ thế đắc địa của cuộc đất, trước mặt là thung lũng ruộng lúa, rồi đến làng xóm sầm uất, tiếp đến là núi, quần sơn nối tiếp trùng trùng điệp điệp.
Cũng có giả thuyết cho rằng đây không phải là thành mà là "đấu đong quân". Theo giả thuyết này thì quân lính được đưa về đây, cứ đầy lòng "đấu" thì sẽ biết số quân hiện là bao nhiêu.
Những đoạn thành đứt quãng không đều nhau, cao thấp không bằng nhau, mặt đá phủ rêu màu đen pha một chút xám. Đất bên dưới thì màu đỏ sậm lẫn một ít sạn sỏi nhỏ.
Giữa hai hẻm núi hùng vĩ, đứng từ điểm cao của thành có thể quan sát cả một vùng rộng lớn hiểm trở, cái tự nhiên của địa hình, của những bức tường thành và những lỗ châu mai đã tạo cho thành cái thế "một người địch muôn người". Hiểm trở uy nghi đã tạo thế cho nhà Mạc trấn giữ biên ải suốt gần một thế kỷ. Tuy quy mô thành không lớn lắm nhưnng đây là chứng tích một thời "huynh đệ tương tàn" giữa các triều đại phong kiến Việt Nam.
Trước đây, Thành Nhà Mạc được quy định là đất sử dụng cho mục đích quốc phòng. Hiện nay di tích thành Nhà Mạc đã được xếp hạng di tích lịch sử Quốc gia và được đầu tư, tôn tạo đưa vào phục vụ du khách du lịch tham quan.
Du khách muốn đến thành nhà Mạc xuất phát từ Hà Nội theo quốc lộ 1A khoảng 154km sẽ đến thành phố Lạng Sơn hoặc đi tuyến đường sắt liên vận quốc tế Hà Nội - Trung Quốc qua Lạng Sơn.
Du lịch, GO! - Theo NgheAn 24
Theo những tư liệu còn lại thì thành là một căn cứ quân sự hiểm yếu chắn con đường độc đạo nối từ Ải Bắc xuống phía Nam đo Mạc Kính Cung xây dựng vào thế kỷ XVI làm căn cứ chống lại Lê - Trịnh.
Dấu tích hiện nay còn lại gồm 2 đoạn tường dài khoảng 300m, mặt thành rộng khoảng 1m, xây bằng những khối đá lớn giữa hẻm núi, tuy được gia cố, trùng tu, nhưng vẫn giữ được dấu vết hoang phế điêu tàn, để khi đứng trong bóng tịch dương nhìn ngắm phong cảnh có một chút bâng khuâng nghĩ về lối xưa xe ngựa.
Đoạn đường từ chân đồi lên cổng thành giờ là nhiều bậc cấp thẳng tắp, ngước trông cổng thành như xa hun hút, nhỏ bé lại...
Lên đến nơi thấy khung cảnh thật thoáng đãng. Đứng bên trong nhìn ra càng nhận rõ thế đắc địa của cuộc đất, trước mặt là thung lũng ruộng lúa, rồi đến làng xóm sầm uất, tiếp đến là núi, quần sơn nối tiếp trùng trùng điệp điệp.
Cũng có giả thuyết cho rằng đây không phải là thành mà là "đấu đong quân". Theo giả thuyết này thì quân lính được đưa về đây, cứ đầy lòng "đấu" thì sẽ biết số quân hiện là bao nhiêu.
Những đoạn thành đứt quãng không đều nhau, cao thấp không bằng nhau, mặt đá phủ rêu màu đen pha một chút xám. Đất bên dưới thì màu đỏ sậm lẫn một ít sạn sỏi nhỏ.
Giữa hai hẻm núi hùng vĩ, đứng từ điểm cao của thành có thể quan sát cả một vùng rộng lớn hiểm trở, cái tự nhiên của địa hình, của những bức tường thành và những lỗ châu mai đã tạo cho thành cái thế "một người địch muôn người". Hiểm trở uy nghi đã tạo thế cho nhà Mạc trấn giữ biên ải suốt gần một thế kỷ. Tuy quy mô thành không lớn lắm nhưnng đây là chứng tích một thời "huynh đệ tương tàn" giữa các triều đại phong kiến Việt Nam.
Trước đây, Thành Nhà Mạc được quy định là đất sử dụng cho mục đích quốc phòng. Hiện nay di tích thành Nhà Mạc đã được xếp hạng di tích lịch sử Quốc gia và được đầu tư, tôn tạo đưa vào phục vụ du khách du lịch tham quan.
Du khách muốn đến thành nhà Mạc xuất phát từ Hà Nội theo quốc lộ 1A khoảng 154km sẽ đến thành phố Lạng Sơn hoặc đi tuyến đường sắt liên vận quốc tế Hà Nội - Trung Quốc qua Lạng Sơn.
Du lịch, GO! - Theo NgheAn 24
Đình Dương Hạp - Di tích lịch sử ở Tân Kỳ
Tại xã Nghĩa Dũng, huyện Tân Kỳ (Nghệ An) có một ngôi đình khá đẹp - đình Dương Hạp tọa lạc trên một vùng đất địa linh. Phía trước là con sông chảy từ Đông Hiếu về làng, bên kia là Lèn Vụt to cao. Phía sau có giếng khơi nước trong vắt, dân cả thôn dùng không khi nào cạn, cạnh đó có núi Cột Cờ.
Khu đất dựng đình có thế tụ linh, tụ phúc, hội tụ những điều may mắn. Xung quanh đình có cây đa, cây bàng, phượng vĩ, nhãn, xà cừ, cây lát làm cho cảnh quan môi trường mát mẻ nên thơ. Ngôi đình ở trong vùng đồng bào dân tộc Thái huyện Tân Kỳ hơn 260 năm nay vẫn còn nguyên vẹn.
Cũng như nhiều ngôi đình ở xứ Nghệ, đình Dương Hạp thờ thần Cao Sơn, Cao Các, Đức Thánh Mẫu, Thái bảo quận công, Đức ông họ Ngô có công lập làng. Ngôi đình xây dựng thế kỷ XVIII, ban đầu các cụ còn lợp tranh, cột gỗ đơn sơ, đến năm 1936, do phong đăng hòa cốc, bà con làm ăn phát đạt, nên tiến hành nâng cấp đình.
Trước khi làm công trình này làng họp bàn chuyện lấy gỗ, thuê thợ vẽ mẫu đình. Sau khi các già làng trưởng bản nhất trí chủ trương, làng giao cho số nhân đinh chọn gỗ trong rừng đại ngàn.
Đình Dương Hạp có ba gian hai hồi văn, dài 14m, rộng 7m, có 4 vi kèo với 14 cột gỗ lim kê trên chân đá tảng màu xanh hình vuông. Nền đình lát gạch xi măng, mái lợp ngói vảy (âm dương). Phía trước, phía sau đình là sân lát gạch sạch sẽ, tất cả có diện tích khoảng 3.000 m2.

< Một góc xã Nghĩa Dũng.
Từ xa du khách đã thấy ngôi đình thấp thoáng trong hàng cây xanh. Trên đỉnh nóc có hình lưỡng long triều nguyệt theo thể thức đăng đối, 2 đỉnh đầu, 4 mái đao là hình các con sấu, lưng chừng bờ giải là hình con nghê, con sư tử.
Ngoài các cột gỗ, đỡ tầng mái là các cột vôi vữa hình vuông. Bờ tường xung quanh không xây kín mà để lửng đón gió bốn phương hòa đồng với muôn dân. Trừ mặt sau còn hai bên và phía trước đình có cửa, nhưng lâu ngày cánh ván hư hỏng nên xóm thưng tạm tấm liếp tre.
Nghệ thuật kiến trúc bên trong không có hoa văn họa tiết, chỉ là các đường xà, kèo kẻ bào trơn đóng bén chắc chắn để chống lại gió ngàn ở vùng núi xa xăm. Gian giữa, trừ phần nửa phía ngoài để lễ bái, còn nửa trong làng cho đóng khung làm bàn thờ thần với các long ngai bài vị. Đập vào mắt du khách là tấm biển sơn son thiếp vàng bằng gỗ dổi viết chữ Hán “tối linh - thượng đẳng”. Xưa kia ở 2 bên bàn thờ là giá gỗ để gươm giáo, bát bửu nay không còn nữa.
Cũng như nhiều ngôi đình vùng xuôi, tại đình Dương Hạp làng tổ chức lễ hội dân gian tưng bừng náo nhiệt. Lịch lễ ở đây là vào rằm tháng 2 (âm lịch) và rằm tháng 6 (âm lịch). Lễ tháng 2 là tế kỳ phúc tức xuân tế, còn lễ tháng 6 là tế lục ngoạt.
< Chợ Nghĩa Dũng.
Ngày lễ trước đình làng treo 1 cờ đại, 20 cờ phướn, trống dong cờ mở. Ngay từ sáng sớm làng rước thần từ đền Đệ Tam, đền Đức thánh Đệ Nhị, đền Đức Ông về đình. Trước khi rước, làng làm lễ mộc dục, tế gia quan. Khi rước có kiệu thần, tàn, lọng, siêu, phạng, phường bát âm và đông đảo bà con làng xóm, mọi người hân hoan phấn khởi.
Ban đêm tại sân đình, làng mời gánh hát ở Yên Thành về hát nhà tơ, hát ca trù, làm cho người dân vơi đi sự mệt nhọc của những ngày cày cấy lam lũ. Xong lễ làng lại rước thần từ đình về đền.
Đình Dương Hạp một di tích lịch sử còn khá nguyên vẹn ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện Tân Kỳ - Nghĩa Đàn, giúp chúng ta nghiên cứu về truyền thống văn hóa với lễ hội dân gian đặc sắc.
Du lịch, GO! - Theo NgheAn 24
Khu đất dựng đình có thế tụ linh, tụ phúc, hội tụ những điều may mắn. Xung quanh đình có cây đa, cây bàng, phượng vĩ, nhãn, xà cừ, cây lát làm cho cảnh quan môi trường mát mẻ nên thơ. Ngôi đình ở trong vùng đồng bào dân tộc Thái huyện Tân Kỳ hơn 260 năm nay vẫn còn nguyên vẹn.
Cũng như nhiều ngôi đình ở xứ Nghệ, đình Dương Hạp thờ thần Cao Sơn, Cao Các, Đức Thánh Mẫu, Thái bảo quận công, Đức ông họ Ngô có công lập làng. Ngôi đình xây dựng thế kỷ XVIII, ban đầu các cụ còn lợp tranh, cột gỗ đơn sơ, đến năm 1936, do phong đăng hòa cốc, bà con làm ăn phát đạt, nên tiến hành nâng cấp đình.
Trước khi làm công trình này làng họp bàn chuyện lấy gỗ, thuê thợ vẽ mẫu đình. Sau khi các già làng trưởng bản nhất trí chủ trương, làng giao cho số nhân đinh chọn gỗ trong rừng đại ngàn.
Đình Dương Hạp có ba gian hai hồi văn, dài 14m, rộng 7m, có 4 vi kèo với 14 cột gỗ lim kê trên chân đá tảng màu xanh hình vuông. Nền đình lát gạch xi măng, mái lợp ngói vảy (âm dương). Phía trước, phía sau đình là sân lát gạch sạch sẽ, tất cả có diện tích khoảng 3.000 m2.

< Một góc xã Nghĩa Dũng.
Từ xa du khách đã thấy ngôi đình thấp thoáng trong hàng cây xanh. Trên đỉnh nóc có hình lưỡng long triều nguyệt theo thể thức đăng đối, 2 đỉnh đầu, 4 mái đao là hình các con sấu, lưng chừng bờ giải là hình con nghê, con sư tử.
Ngoài các cột gỗ, đỡ tầng mái là các cột vôi vữa hình vuông. Bờ tường xung quanh không xây kín mà để lửng đón gió bốn phương hòa đồng với muôn dân. Trừ mặt sau còn hai bên và phía trước đình có cửa, nhưng lâu ngày cánh ván hư hỏng nên xóm thưng tạm tấm liếp tre.
Nghệ thuật kiến trúc bên trong không có hoa văn họa tiết, chỉ là các đường xà, kèo kẻ bào trơn đóng bén chắc chắn để chống lại gió ngàn ở vùng núi xa xăm. Gian giữa, trừ phần nửa phía ngoài để lễ bái, còn nửa trong làng cho đóng khung làm bàn thờ thần với các long ngai bài vị. Đập vào mắt du khách là tấm biển sơn son thiếp vàng bằng gỗ dổi viết chữ Hán “tối linh - thượng đẳng”. Xưa kia ở 2 bên bàn thờ là giá gỗ để gươm giáo, bát bửu nay không còn nữa.
Cũng như nhiều ngôi đình vùng xuôi, tại đình Dương Hạp làng tổ chức lễ hội dân gian tưng bừng náo nhiệt. Lịch lễ ở đây là vào rằm tháng 2 (âm lịch) và rằm tháng 6 (âm lịch). Lễ tháng 2 là tế kỳ phúc tức xuân tế, còn lễ tháng 6 là tế lục ngoạt.
< Chợ Nghĩa Dũng.
Ngày lễ trước đình làng treo 1 cờ đại, 20 cờ phướn, trống dong cờ mở. Ngay từ sáng sớm làng rước thần từ đền Đệ Tam, đền Đức thánh Đệ Nhị, đền Đức Ông về đình. Trước khi rước, làng làm lễ mộc dục, tế gia quan. Khi rước có kiệu thần, tàn, lọng, siêu, phạng, phường bát âm và đông đảo bà con làng xóm, mọi người hân hoan phấn khởi.
Ban đêm tại sân đình, làng mời gánh hát ở Yên Thành về hát nhà tơ, hát ca trù, làm cho người dân vơi đi sự mệt nhọc của những ngày cày cấy lam lũ. Xong lễ làng lại rước thần từ đình về đền.
Đình Dương Hạp một di tích lịch sử còn khá nguyên vẹn ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện Tân Kỳ - Nghĩa Đàn, giúp chúng ta nghiên cứu về truyền thống văn hóa với lễ hội dân gian đặc sắc.
Du lịch, GO! - Theo NgheAn 24
Sài Gòn và những địa danh mang tên 'Ông', 'Bà'
Hơn 300 năm hình thành và phát triển, trải bao thăng trầm, nhiều kiến trúc của đất Sài Gòn - Gia Định - Chợ Lớn xưa, nay là TP HCM vẫn giữ ít nhiều nét đẹp cũ. Có những vẻ đẹp mãi đi cùng năm tháng, có những đổi thay đến ngỡ ngàng, xa lạ. Thời gian vẫn âm thầm đổ bóng trên từng công trình, kiến trúc, từng con đường, hàng cây… của phố phường Sài Gòn, nơi từng được mệnh danh là Hòn ngọc Viễn Đông.
Từ Lăng Ông Bà Chiểu, đến xã Bà Điểm "18 thôn vườn trầu", cầu Thị Nghè, chợ Bà Hoa... đều mang những câu chuyện lịch sử của một thành phố hơn 300 năm tuổi.
Lăng Ông Bà Chiểu (quận Bình Thạnh) có tên chữ là Thượng công miếu. Đây là khu lăng mộ, nơi thờ cúng Tả quân Lê Văn Duyệt và phu nhân, khuôn viên rộng rãi, thoáng mát. Lăng nằm kế bên khu chợ Bà Chiểu nên nhiều người thường nhầm rằng đây là lăng thờ ông bà tên Chiểu. Những ngày này (1-3/8 âm lịch) là ngày giỗ của Tả quân nên Lăng rất đông người về dự lễ.
Nằm ở trung tâm quận Bình Thạnh, được xây dựng năm 1942, khi mới hình thành tỉnh Gia Định và nâng cấp sửa chữa vào cuối những năm 90, chợ Bà Chiểu là một trong những ngôi chợ lâu đời nhất TP HCM.
Theo nhà văn Sơn Nam, Bà Chiểu là tên vùng đất, chỉ mới xuất hiện thời vua Tự Đức. Chiểu có nghĩa là ao nước thiên nhiên, Bà Chiểu là nữ thần được thờ bên ao thiên nhiên. Chợ Bà Chiểu đã đi vào ca dao với câu “Xe mui chiều thả chung quanh/ Đôi vòng Bà Chiểu thích tình dạo chơi”.
Chùa Ông Bổn (hay còn gọi là miếu Nhị Phủ) nằm trên đường Hải Thượng Lãn Ông, phường 14, quận 5. Được xây dựng từ cuối thế kỷ 17 bởi những người Hoa di cư, miếu Nhị Phủ là nơi duy nhất thờ Bổn Đầu Công.
Tương truyền ông Bổn vốn là thái giám Trịnh Hòa dưới thời vua Vĩnh Lạc. Ông chu du nhiều nơi, đem về nhiều báu vật cho nhà vua. Ông còn có công giúp cho người Hoa xây dựng cuộc sống nên được người dân kính cẩn thờ phụng.
Xã Bà Điểm thuộc huyện Hóc Môn, TP HCM, nổi tiếng với “18 thôn vườn trầu”. Theo học giả Trương Vĩnh Ký thì Bà Điểm cùng với Bà Rịa, Bà Chiểu, Bà Quẹo, Bà Hom là 5 bà vợ của một viên lãnh binh, người đã xây cầu ông Lãnh.
Theo phương pháp kinh tế tự túc mà các cụ ngày xưa thường áp dụng, ông đã lập ra 5 ngôi chợ, giao cho mỗi bà cai quản một nơi. Chợ Bà Điểm, gần làng Tân Thới - quê hương cụ Đồ Chiểu, là nơi bán trầu ngon có tiếng ở miền Nam.
Cầu Ông Lãnh nối dài quận 1 và quận 4. Cây cầu được đặt theo tên của ông Lãnh binh tên là Nguyễn Ngọc Thăng sống vào khoảng cuối thế kỷ 18, giữa thế kỷ 19.
Ngoài ra, tên của vị võ tướng có công này còn được đặt cho một con đường ở quận 11 (đường Lãnh Binh Thăng) và một ngôi chợ (chợ Cầu Ông Lãnh).
Đường Ông Ích Khiêm đặt theo tên của vị danh tướng đời nhà Nguyễn. Con đường chỉ dài chưa tới một km, hai bên đường buôn bán đủ các loại mặt hàng dịch vụ.
Tên đường ở TPHCM bắt đầu bằng chữ “Bà” cũng khá nhiều như đường Bà huyện Thanh Quan, đường Bà Hạt, Bà Lê Chân…
Đường Bà huyện Thanh Quan thời Pháp thuộc có tên là Rue Nouvelle, năm 1920 đổi thành Pierre Fladin, năm 1955 đến nay đường mang tên Bà huyện Thanh Quan, một nữ sĩ nổi tiếng đầu thế kỷ XIX.
Cầu Thị Nghè (trước là cầu Bà Nghè) bắc qua Rạch Thị Nghè, là cầu nối giữa quận 1 và Bình Thạnh.
Theo sử sách, cầu do bà Nguyễn Thị Khánh, con gái quan khâm sai Nguyễn Cửu Vân xây dựng để tiện việc đi lại, thủa bà mới khai hoang đất ở. Chồng bà là thư ký đỗ cử nhân (đương thời gọi là ông Nghè). Cầu được gọi là cầu Thị Nghè từ giữa thế kỷ XIX. Đến năm 1970, cầu được xây mới bằng xi măng cốt thép.
Cư dân tại nhiều địa phương ở miền Nam có tập tục thờ bà Chúa Xứ. Nổi tiếng nhất là miếu Bà Chúa Xứ núi Sam ở thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Ngoài ra, ở Bình Dương cũng có nhiều nơi thờ vị nữ thần có nguồn gốc từ Ấn Độ này. Ngay tại khu Cây Sộp thuộc phường Tân Hưng Thuận, quận 12, cũng có một ngôi miếu khang trang thờ bà Chúa Xứ.
Một góc đường Phạm Văn Hai trong khu Ông Tạ, quận Tân Bình. Khu vực này vốn nổi tiếng bởi vì từng tồn tại phòng khám của lương y Nguyễn Văn Bi (thường được người dân gọi là ông Tạ). Ngoài ra, nó còn nổi tiếng bởi món thịt chó.
Chợ Bà Hoa, nằm trong làng dệt Bảy Hiền (Tân Bình) thường được gọi là chợ quê Quảng Nam với đủ các mặt hàng đặc trưng từ Quảng Nam nói riêng và miền Trung nói chung, như hành tỏi nhỏ mà thơm của miền Trung, bánh nổ, bánh tổ, mắm nêm, các loại rau lá xứ Quảng...
Chợ lấy theo tên một người phụ nữ tên Hoa, người đã lập nên khu chợ này vào năm 1967. Trước kia chợ có tên là Linh Hoa (Linh là tên chồng bà Hoa), sau này dù đã đổi lại thành chợ phường 11 nhưng người dân vẫn quen gọi là chợ Bà Hoa, như một xứ Quảng thu nhỏ giữa lòng Sài Gòn.
Du lịch, GO! - Theo VvExpress
Từ Lăng Ông Bà Chiểu, đến xã Bà Điểm "18 thôn vườn trầu", cầu Thị Nghè, chợ Bà Hoa... đều mang những câu chuyện lịch sử của một thành phố hơn 300 năm tuổi.
Lăng Ông Bà Chiểu (quận Bình Thạnh) có tên chữ là Thượng công miếu. Đây là khu lăng mộ, nơi thờ cúng Tả quân Lê Văn Duyệt và phu nhân, khuôn viên rộng rãi, thoáng mát. Lăng nằm kế bên khu chợ Bà Chiểu nên nhiều người thường nhầm rằng đây là lăng thờ ông bà tên Chiểu. Những ngày này (1-3/8 âm lịch) là ngày giỗ của Tả quân nên Lăng rất đông người về dự lễ.
Nằm ở trung tâm quận Bình Thạnh, được xây dựng năm 1942, khi mới hình thành tỉnh Gia Định và nâng cấp sửa chữa vào cuối những năm 90, chợ Bà Chiểu là một trong những ngôi chợ lâu đời nhất TP HCM.
Theo nhà văn Sơn Nam, Bà Chiểu là tên vùng đất, chỉ mới xuất hiện thời vua Tự Đức. Chiểu có nghĩa là ao nước thiên nhiên, Bà Chiểu là nữ thần được thờ bên ao thiên nhiên. Chợ Bà Chiểu đã đi vào ca dao với câu “Xe mui chiều thả chung quanh/ Đôi vòng Bà Chiểu thích tình dạo chơi”.
Chùa Ông Bổn (hay còn gọi là miếu Nhị Phủ) nằm trên đường Hải Thượng Lãn Ông, phường 14, quận 5. Được xây dựng từ cuối thế kỷ 17 bởi những người Hoa di cư, miếu Nhị Phủ là nơi duy nhất thờ Bổn Đầu Công.
Tương truyền ông Bổn vốn là thái giám Trịnh Hòa dưới thời vua Vĩnh Lạc. Ông chu du nhiều nơi, đem về nhiều báu vật cho nhà vua. Ông còn có công giúp cho người Hoa xây dựng cuộc sống nên được người dân kính cẩn thờ phụng.
Xã Bà Điểm thuộc huyện Hóc Môn, TP HCM, nổi tiếng với “18 thôn vườn trầu”. Theo học giả Trương Vĩnh Ký thì Bà Điểm cùng với Bà Rịa, Bà Chiểu, Bà Quẹo, Bà Hom là 5 bà vợ của một viên lãnh binh, người đã xây cầu ông Lãnh.
Theo phương pháp kinh tế tự túc mà các cụ ngày xưa thường áp dụng, ông đã lập ra 5 ngôi chợ, giao cho mỗi bà cai quản một nơi. Chợ Bà Điểm, gần làng Tân Thới - quê hương cụ Đồ Chiểu, là nơi bán trầu ngon có tiếng ở miền Nam.
Cầu Ông Lãnh nối dài quận 1 và quận 4. Cây cầu được đặt theo tên của ông Lãnh binh tên là Nguyễn Ngọc Thăng sống vào khoảng cuối thế kỷ 18, giữa thế kỷ 19.
Ngoài ra, tên của vị võ tướng có công này còn được đặt cho một con đường ở quận 11 (đường Lãnh Binh Thăng) và một ngôi chợ (chợ Cầu Ông Lãnh).
Đường Ông Ích Khiêm đặt theo tên của vị danh tướng đời nhà Nguyễn. Con đường chỉ dài chưa tới một km, hai bên đường buôn bán đủ các loại mặt hàng dịch vụ.
Tên đường ở TPHCM bắt đầu bằng chữ “Bà” cũng khá nhiều như đường Bà huyện Thanh Quan, đường Bà Hạt, Bà Lê Chân…
Đường Bà huyện Thanh Quan thời Pháp thuộc có tên là Rue Nouvelle, năm 1920 đổi thành Pierre Fladin, năm 1955 đến nay đường mang tên Bà huyện Thanh Quan, một nữ sĩ nổi tiếng đầu thế kỷ XIX.
Cầu Thị Nghè (trước là cầu Bà Nghè) bắc qua Rạch Thị Nghè, là cầu nối giữa quận 1 và Bình Thạnh.
Theo sử sách, cầu do bà Nguyễn Thị Khánh, con gái quan khâm sai Nguyễn Cửu Vân xây dựng để tiện việc đi lại, thủa bà mới khai hoang đất ở. Chồng bà là thư ký đỗ cử nhân (đương thời gọi là ông Nghè). Cầu được gọi là cầu Thị Nghè từ giữa thế kỷ XIX. Đến năm 1970, cầu được xây mới bằng xi măng cốt thép.
Cư dân tại nhiều địa phương ở miền Nam có tập tục thờ bà Chúa Xứ. Nổi tiếng nhất là miếu Bà Chúa Xứ núi Sam ở thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Ngoài ra, ở Bình Dương cũng có nhiều nơi thờ vị nữ thần có nguồn gốc từ Ấn Độ này. Ngay tại khu Cây Sộp thuộc phường Tân Hưng Thuận, quận 12, cũng có một ngôi miếu khang trang thờ bà Chúa Xứ.
Một góc đường Phạm Văn Hai trong khu Ông Tạ, quận Tân Bình. Khu vực này vốn nổi tiếng bởi vì từng tồn tại phòng khám của lương y Nguyễn Văn Bi (thường được người dân gọi là ông Tạ). Ngoài ra, nó còn nổi tiếng bởi món thịt chó.
Chợ Bà Hoa, nằm trong làng dệt Bảy Hiền (Tân Bình) thường được gọi là chợ quê Quảng Nam với đủ các mặt hàng đặc trưng từ Quảng Nam nói riêng và miền Trung nói chung, như hành tỏi nhỏ mà thơm của miền Trung, bánh nổ, bánh tổ, mắm nêm, các loại rau lá xứ Quảng...
Chợ lấy theo tên một người phụ nữ tên Hoa, người đã lập nên khu chợ này vào năm 1967. Trước kia chợ có tên là Linh Hoa (Linh là tên chồng bà Hoa), sau này dù đã đổi lại thành chợ phường 11 nhưng người dân vẫn quen gọi là chợ Bà Hoa, như một xứ Quảng thu nhỏ giữa lòng Sài Gòn.
Du lịch, GO! - Theo VvExpress
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)























































