Hiển thị các bài đăng có nhãn Động. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Động. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 28 tháng 11, 2011

Hang đá Đắk Tur - Thật hay giả?

Hang đá Đăk Tur là một di tích lịch sử tại Đắk Lắk, được Bộ văn hóa -thông tin xếp hạng vào năm 1991.

Khu di tích nằm ở địa bàn xã Cư Pui, cách trung tâm xã khoảng 6km, cạnh dòng thác Đăk Tur.
Trong suốt những năm kháng chiến chống Mỹ, Hang đá Dak Tuar là nơi đóng quân của Tỉnh ủy Đắk Lắk và các đơn vị bộ đội chủ lực của tỉnh.

Địa hình khu vực xung quanh hang rất hiểm trở, hang rất rộng gồm nhiều tầng, nhiều lớp có thể đủ chỗ ở cho cả sư đoàn quân chủ lực. Mỹ, Ngụy đã  nhiều lần dùng máy bay ném bom, tổ chức nhiều cuộc càn quét hòng tiêu diệt khu căn cứ đầu não này nhưng đều thất bại thảm hại.

Tháng 5/1965, tại hang đá này, Tỉnh ủy đã lãnh đạo nhân dân các dân tộc H9 vùng dậy phá ách kìm kẹp của địch, giải phóng một vùng đất rộng lớn về phía đông của tỉnh, vùng đất này nay thuộc huyện Krông Bông. Từ vùng căn cứ cách mạng này, Tỉnh ủy tiếp tục lãnh đạo quân và dân trong tỉnh kháng chiến, giải phóng Buôn Ma Thuột ngày 10-3-1975, mở màn cho Đại thắng mùa Xuân năm 1975, toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Hiện nay đường vào di tích lịch sử này đã được đầu tư nhiều để tạo điều kiện cho du khách đến tham quan cũng như các hoạt động về nguồn của tuổi trẻ và quân, dân Đắk Lắk.
Tuy nhiên...

Hang Dak Tuar - di tích lịch sử giả tạo ở Đăk Lăk

Những nhân vật lịch sử được nhắc đến trong hồ sơ xét duyệt đang yêu cầu Tỉnh ủy, UBND Đăk Lăk kiểm tra lại tính chính xác của các tài liệu về di tích lịch sử Dak Tuar. Họ khẳng định hang đá này chưa bao giờ là căn cứ kháng chiến như bản lý lịch di tích được Bộ VH-TT công nhận năm 1991.

Theo bản lý lịch di tích lịch sử cách mạng hang đá buôn Dak Tuar năm 1990 của Bảo tàng tỉnh thì năm 1961, trong một trận càn quét của quân Mỹ và lính chế độ Sài Gòn cũ, toàn bộ dân buôn Tuar (nay thuộc xã Cư Pui, huyện Krông Bông) chạy tránh nạn trên núi Chư Yang Sin. Tại đây, 2 người làng phát hiện một hang đá vừa rộng, vừa dài, gần nguồn nước, có nhiều ngóc ngách thuận tiện cho việc trú quân, ăn ở lâu dài. Sau đó, tỉnh ủy Đăk Lăk đã chọn hang này làm căn cứ. Một số cán bộ lúc đó như ông Huỳnh Văn Cần, Mười Nguyên, Lê Chí Quyết, A Ma Thưng, Nam Vinh, Yblốc Êban, Lê Hữu Kiểng… đã ở đây chỉ huy cuộc kháng chiến.

Bản lý lịch có đoạn: “Gộp Chăng (tức hang đá Dak Tuar) không chỉ là đường dây chuyển liên lạc thông tin tiếp tế từ miền Bắc hậu phương lớn vào miền Trung và các tỉnh miền Nam… mà còn là trung tâm chỉ đạo cách mạng trong toàn tỉnh. Hang đá Dak Tuar mãi mãi đi vào lịch sử…”.

Căn cứ vào hồ sơ này, kèm với ý kiến của Sở VH-TT và tờ trình của UBND tỉnh Đăk Lăk, ngày 3/8/1991 Bộ VH-TT ký quyết định công nhận hang Dak Tuar là di tích lịch sử.

Thế nhưng trong danh mục 8 tài liệu tham khảo của Bảo tàng Đăk Lăk nêu ra, kể cả tài liệu tin cậy nhất là các quyển Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đăk Lăk, Vấn đề xây dựng căn cứ miền núi từ năm 1954-1970, Chỉ thị về nhiệm vụ xây dựng căn cứ cách mạng Tây Nguyên... đều không hề nhắc đến hang đá Dak Tuar.

Những nhân vật lịch sử được nhắc đến trong hồ sơ xét duyệt di tích lịch sử như ông Huỳnh Văn Cần (nguyên bí thư Tỉnh ủy Đăk Lăk), Hoàng Lê (nguyên chánh văn phòng Tỉnh ủy), Lê Hữu Kiểng (nguyên tỉnh đội trưởng) đều khẳng định chưa hề một ngày ở trong hang Dak Tuar. Có người còn nói không biết hang đá đó ở đâu. Ông Hoàng Lê nói: "Trong kháng chiến chống Mỹ, cơ quan chỉ huy có đóng tại buôn Tuar, chứ không ở trong hang đá. Nếu công nhận di tích lịch sử thì phải công nhận buôn Tuar chứ không phải hang đá nào đó".

Ông Huỳnh Văn Cần, nay là cán bộ hưu trí, cho rằng: "Để công nhận một địa danh là di tích lịch sử, trước hết phải khảo sát, tập hợp tài liệu, gồm văn bản, hiện vật, lời kể của những nhân chứng sống... Tất cả được lập thành hồ sơ và được đưa ra hội thảo để xem xét độ chính xác của tài liệu, giá trị tầm vóc của di tích, sau đó mới có thể kết luận và đề nghị công nhận. Thế nhưng bảo tàng Đăk Lăk đã không hề đưa ra được bất cứ hiện vật, tài liệu, văn bản, nhân chứng nào chứng minh cho bản lý lịch hang đá Dak Tuar". Ông Cẩn khẳng định những chi tiết trong lý lịch Dak Tuar như: “Từ một hang đá hoang vu nơi chốn rừng thiêng nước độc đã trở thành ngôi nhà thiên nhiên kín đáo vững chắc, tỉnh ủy cùng các cơ quan ban ngành đã đóng chốt cùng với toàn dân Dak Tuar mà hầu hết là người dân tộc M’nông để tổ chức cuộc kháng chiến...” là không có thực.

Các vị lão thành cho biết đã nhiều lần đề nghị Tỉnh ủy Đăk Lăk xác minh vấn đề này, và UBND tỉnh cũng đã yêu cầu Sở VH-TT tỉnh giải trình. Nhưng đã hai tháng qua, chuyện thật giả của “di tích lịch sử cách mạng Dak Tuar” vẫn chưa được các cơ quan chức năng tỉnh làm rõ.

Du lịch, GO!- Theo VnExpress, internet

ĐGD: Thật giả vẫn chưa ngã ngũ nhưng về phương diện cảnh vật thiên nhiên thì hang đá Đắk Tur vẫn là một chốn hoang sơ, đẹp...

Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2011

Vào hang tối triệu năm

Trước khi đến với Sơn Đoòng, tôi tưởng tượng những nỗi gian truân sẽ chờ đón mình: phải lặn không bình hơi qua một đoạn sông ngầm, thả người bằng dây xuống vách đá... Nhưng những điều ấy xem ra chẳng thấm vào đâu so với những gì tôi đã trải qua.

< Một đoạn mái của hang Sơn Đoòng bị sập nhiều năm trước đã tạo điều kiện cho ánh sáng ùa vào, cây cối xum xuê phát triển, tạo nên một cánh rừng kỳ vĩ giữa lòng hang. Các nhà thám hiểm đặt tên cho nơi đây là Vườn địa đàng.

Những bộ ảnh chụp Sơn Đoòng do Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh công bố và sau đó được in trên tạp chí National Geographic gây choáng váng dân làm nghề nhiếp ảnh chúng tôi, thế nhưng để có những bức ảnh tuyệt đẹp như thế, người chụp ảnh cần phải có...


< Vượt rừng để đến cửa sau của hang Sơn Đoòng.

... hàng chục loại thiết bị hỗ trợ: từ máy phát điện, bộ đồ lặn cho tới các thiết bị leo núi và nhất là phải có máy ảnh đặc dụng... Trong khi chúng tôi vào Sơn Đoòng chỉ với chiếc máy ảnh loại xoàng, đôi giày vải cao cổ và chai nước.

< Bức ảnh tuyệt mỹ trong lòng hang Sơn Đoòng trên tạp chí National Geographic.

Để có thể vào hang Sơn Đoòng, trước hết phải vượt qua một dải núi không có đường mòn và đây là vào cửa sau của hang, tương đối dễ đi hơn so với cửa trước hang. Đoạn đường này không có gì khó đối với các hướng dẫn viên của Công ty Oxalis chuyên tổ chức các tour du lịch mạo hiểm, nhưng với chúng tôi vẫn là thử thách khá cam go: băng qua rừng Trường Sơn không dấu chân người, vượt qua một đỉnh núi cao để tới được sườn bên kia. Toàn bộ khu vực này đều nằm trong vùng lõi của vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng từng được cả thế giới biết đến với động Phong Nha và động Thiên Đường.

< Cửa sau của hang Sơn Đoòng.

Câu chuyện kỳ thú về Sơn Đoòng được viết từ năm 1999, khi Hồ Khanh - một người địa phương - đã đưa đoàn thám hiểm của Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh vào được trong lòng hang, từ đó những hình ảnh về Sơn Đoòng mới được thế giới biết tới. Ngay buổi sáng vượt qua khu rừng rậm chằng chịt dây leo, tôi gặp Hồ Khanh đang đưa một đoàn các nhà khoa học chuyên nghiên cứu về thực vật cũng vào Sơn Đoòng. Trong khi nhóm do Hồ Khanh dẫn đường mất hút vào rừng thì chúng tôi vẫn loay hoay trên con đường nhoe nhoét bùn và tầng tầng lớp lớp lá mục, càng đi càng dốc ngược.

Đã vài lần leo đỉnh Phanxipăng và vượt một số cung đường rừng núi khác, tôi vẫn thấy kinh hãi trước thử thách ở đây. Trời không mưa nhưng vách núi trơn như thoa mỡ, chúng tôi phải bò như thằn lằn trên những vách đá tai mèo sắc như dao, chỉ sểnh chân là rơi xuống vực. Sự mệt mỏi gần như hút hết sinh khí, mỗi bước chân là một cực hình, nếu anh em Oxalis không ngớt động viên có lẽ tôi đã ngồi lại để đợi mọi người quay về! Sau khoảng ba giờ leo núi, cuối cùng cửa hang Sơn Đoòng hiện ra trong tầm mắt.

< Chỉ cần vào hang vài chục mét đã chạm bóng tối mịt mùng.

Cũng không giống những hình ảnh về Sơn Đoòng được xem trên Internet, sau khi lần từng bước vào bên trong hang được vài chục mét, trước mắt chúng tôi là bóng tối mịt mùng. Chiếc đèn gắn trên trán chỉ giúp chúng tôi quan sát trong tầm vài mét, song cũng đủ để thấy được những nét kỳ ảo của vô vàn thạch nhũ trong hang. Dưới nền hang, chúng tôi bắt gặp hàng nghìn viên đá tròn nhỏ, sản phẩm của quá trình bồi lắng canxi quanh một lõi ban đầu và sự lưu chuyển chậm của nước, tương tự quá trình hình thành ngọc trai.

Do vào cửa sau của Sơn Đoòng, chúng tôi không được chiêm ngưỡng cảnh sắc ngoạn mục của thảm rừng nguyên sinh mọc trong lòng hang nhưng những gì được chiêm ngưỡng ở đây cũng kỳ diệu lắm rồi.

Có một vực sâu chia cắt hai phần Sơn Đoòng được đặt tên là “Bức tường Việt Nam”, khi lần mò đến vực và ném đá xuống, phải rất lâu sau tôi mới nghe tiếng vọng lại. Đó là một vực thẳng tuột sâu khoảng 80m và những người khám phá Sơn Đoòng từ cửa trước cũng sẽ bị chặn tại đây.

Trong khi nền hang Phong Nha và Thiên Đường đã được cải tạo bằng phẳng và lắp đặt hệ thống đèn chiếu sáng thì nền hang Sơn Đoòng trơn nhẫy, ẩm ướt với nhiều vũng nước. Đó chính là nguồn cung cấp nước cho hành trình trở về của chúng tôi bởi chai nước suối mang theo đã hết sạch từ lâu. Sau nắm cơm vắt ăn vội của bữa trưa trong hang, đoàn chúng tôi vội vã trở ra. Lại những gian nan y như lúc vào nhưng cơ thể ai nấy đều đã rã rời. Sau nhiều giờ ngâm nước trong hang, giày ướt sũng, còn quần áo, mũ và tóc tai chúng tôi đẫm mồ hôi. Khi trời gần tắt nắng, tôi cũng chạm tay được mặt nhựa trên đường Hồ Chí Minh, nơi xe đang chờ sẵn.

Trong một quán ăn ven sông Son, chúng tôi cùng nhau thưởng thức món cá chình đặc hữu của vùng Phong Nha - Kẻ Bàng và nâng ly mừng chuyến khám phá Sơn Đoòng kết thúc tốt đẹp. Thật bất ngờ khi được biết chúng tôi mới là đoàn thứ ba vào được lòng hang Sơn Đoòng!

Du lịch, GO! - Theo Dulidh Tuoitre, internet

Chùa Nhẫm Dương và sự bí ẩn của các hang động

Những di cốt hóa thạch và các hang động không chỉ có ý nghĩa về lịch sử và văn hóa quốc gia mà còn mang ý nghĩa quốc tế.

Khu hang động khảo cổ học chùa Nhẫm Dương và một số hang động, nằm ở thôn Nhẫm Dương, xã Duy Tân, huyện Kinh Môn (Hải Dương). Vào đầu thế kỷ XIX, thôn Nhẫm Dương thuộc xã Duyên Linh, tổng Thượng Chiểu, huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, các thôn Kim Bào, Trại Xanh, xã Châu Xá, xã Duyên Linh hợp nhất, lấy tên là xã Duy Tân cho đến nay.

Khu hang động khảo cổ học chùa Nhẫm Dương và các hang động tại khu vực núi đá vôi xã Duy Tân được hình thành do sự biến đổi của tự nhiên từ hàng triệu năm trước. Hệ thống núi đá vôi, các hang động và cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ là những kiệt tác đẹp hiếm có của Hải Dương và cả nước. Khu di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia theo Quyết định số 15/QĐ- BVHTT ngày 14/4/2003 của Bộ Văn hóa- Thông tin.

Chùa Nhẫm Dương có tên tự là Thánh Quang . Đây là ngôi chùa lớn, được xây dựng từ thời Trần, thờ phật, đến thế kỷ XVII, chùa là nơi tu hành của thủy tổ thiền phái Tào Động  do sư  Thủy Nguyệt trụ trì. Chùa còn mang tên thôn Nhẫm Dương, nhân dân gọi tắt là chùa Nhẫm.

Di tích khảo cổ học chùa Nhẫm có hai hang quan trọng: hang Thánh Hóa nằm về phía Tây của chùa và hang Tối nằm tại sườn núi phía Tây Bắc, cách chùa chừng 250 m. Hệ thống hang động trên núi thuộc địa bàn xã Duy Tân gồm 26 hang lớn nhỏ, chủ yếu nằm về phía Tây Bắc, phía Tây Nam và phía Đông Bắc của chùa.

Duy Tân là một xã thuộc vùng bán sơn địa, nơi có địa hình đa dạng, ngoài ruộng canh tác, ao, sông, hồ, Duy Tân còn có một số dãy núi đá vôi, đồi đất nằm tập trung ở thôn Nhẫm Dương. Với địa hình đa dạng như vậy, người dân nơi đây có khá nhiều ngành nghề khác nhau nhưng nhìn chung vẫn lấy nghề nông là nghề chính của mình. Trước đây, khi rừng chưa cạn kiệt, nơi đây còn có nghề săn bắn, gần đây do nhu cầu của thị trường mà nghề khai thác đá làm vật liệu xây dựng khá phát triển, do đó đã nâng cao đời sống của nhân dân địa phương.

Là một xã có khá nhiều di tích lịch sử - văn hóa, trước đây, các thôn đều có đình, chùa, riêng thôn Kim Bào có nhà thờ Thiên chúa giáo, là họ lẻ của xứ đạo Minh Hòa, thuộc địa phận Hải Phòng. Trong kháng chiến chống Pháp nhiều đình, chùa, đền, miếu bị hủy hoại, kể cả chùa Nhẫm Dương. Hiện nay, một số di tích đã được khôi phục lại, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Duy Tân có hệ thống hang động gắn với chiến công lừng lẫy trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

Các hang như hang Mạt, hang Ma, hang Trâu, Thung Xanh, Thung Thóc, hang Đình, hang Bò Lê... đều gắn với các sự kiện trong cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ của địa phương, nhiều hang động là nơi đóng quân và là bệnh viện của Quân y viện 7 quân khu III. Những sự kiện lịch sử, những chiến công oanh liệt xảy ra ở đây đã, đang và mãi mãi không phai mờ trong tâm thức của người dân Duy Tân.

Trong hệ thống hang động, quan trọng nhất là hai hang: Hang Thánh Hóa và hang Tối là những hang phát hiện nhiều hiện vật khảo cổ học, khẳng định cho sự phát triển của loài người từ hàng vạn năm trước.

Hang (động) Thánh Hóa nằm ở chân núi sau chùa Nhẫm Dương, hang có diện tích khoảng 100 m2, từ cửa hang tới cuối hang theo hướng nhỏ dần. Trên đỉnh hang có nhiều thạch nhũ với muôn hình muôn vẻ, càng về cuối lòng hang càng hẹp và tối, cho đến nay chưa ai xác định được hang còn sâu đến mức nào? Vì cuối hang vẫn còn khá nhiều hóa thạch trên vách.

Trong những năm 1996 - 1997, khi sửa sang hang Thánh Hóa, nhân dân đã tìm thấy nhiều tượng phật có niên đại thời Nguyễn (thế kỷ XIX) chất liệu đá, đã được cất dấu trong kháng chiến. Đặc biệt, từ năm 1999 đến năm 2001, nhân dân và nhà sư trụ trì đã phát hiện nhiều di vật lạ, đã báo cáo lên cơ quan chuyên môn để xác định. Bảo tàng Hải Dương đã có nhiều cuộc thám sát, nghiên cứu và đã có những nhận định ban đầu: Hang Thánh Hóa có dấu vết từ thời tiền sử.

Trong hai năm 2000 và 2001, Bảo tàng Hải Dương đã kết hợp với Viện Khảo cổ, Viện Nghiên cứu địa chất đã tiến hành nhiều cuộc thám sát, điền dã, nghiên cứu và kết luận: Hang Thánh Hóa là di tích khảo cổ học quan trọng của cả nước. Tại đây, đã tìm được di cốt hóa thạch của 27 loài động vật như: Voi, tê giác, hổ, báo, lợn rừng, nhím...và đặc biệt tìm thấy khá nhiều răng Pôngô (đười ươi).

Theo giám định của Viện Khảo cổ học thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, thì những hóa thạch và di vật đó cách ngày nay từ 3 vạn đến 5 vạn năm. Hiện nay, động Thánh Hóa có tầng văn hóa dầy 4m, chắc chắn sẽ có nhiều di vật quý mà chúng ta chưa phát hiện được, nếu tiếp tục khai quật sẽ mang lại nhiều kết luận quan trọng về sự phát triển của loài người.

- Hang Tối: Hang được gọi theo tên gọi của nhân dân địa phương vì hang có nhiều ngách và rất tối. Hang nằm bên sườn núi phía Tây Bắc chùa Nhẫm Dương. Trong kháng chiến chống Pháp, hang Tối là nơi ẩn náu của cán bộ cách mạng. Những chiến sĩ đã phát hiện ra một số hiện vật lạ như rìu và giáo đồng. Nhưng đã rất nhiều năm, không ai báo cáo tới các cơ quan chuyên môn về những hiện vật đó.

Đến năm 2001, Bảo tàng Hải Dương đã quyết định thám sát hang Tối để nghiên cứu, càng vào sâu, lòng hang càng rộng và tối, đặc biệt tại đỉnh hang có nhiều thạch nhũ đẹp. Tại đây, các nhà khảo cổ đã tìm thấy một số hiện vật như rìu đồng có vai, thạp đồng, lưỡi xéo đồng, các hiện vật trên thuộc nền văn hóa Đông Sơn. Hang Tối có khả năng là di chỉ có niên đại thuộc hậu kỳ đá cũ. Trong tương lai, nếu khai quật lớn sẽ có nhiều tài liệu khảo cổ học quan trọng. Ngoài ra, tại khu vực núi Nhẫm Dương, nhân dân đã tìm thấy rìu đá, các công cụ bằng đá cuội, lõi khoan, hòn mài, đá mài và rìu thuộc thời đại đồ đá mới.

Các công trình nghiên cứu khảo cổ học thông qua các cuộc thám sát, điền dã và hệ thống các hiện vật khảo cổ đã khẳng định hang Thánh Hóa và hang Tối là các di chỉ khảo cổ học quan trọng, cần được bảo vệ và khai quật để nghiên cứu. Cho đến nay chúng ta đã thu được hàng vạn hiện vật tại hai hang này, chủ yếu là hóa thạch của các loài động vật có niên đại từ hàng vạn năm trước. Đây là các tài liệu quan trọng  trong việc xác định địa chất và diện mạo khu vực núi đá Nhẫm Dương trong lịch sử.

Hệ thống hang động ở xã Duy Tân khá dầy đặc, nhân dân địa phương đã phát hiện được 26 hang động lớn nhỏ, nằm trên dãy núi đá vôi. Đến nay, nhiều hang động không còn do khai thác đá. Tuy nhiên, trong ký ức của cán bộ và nhân dân địa phương, những hang động đó đã từng chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng không thể phai mờ.

Từ những năm 1948 - 1949 - 1951, tại hang Thánh Hóa đã có nhiều đơn vị về đóng quân, đồng chí Lê Thanh Nghị  và đồng chí Hoàng Quốc Việt đã dùng hang làm trụ sở chỉ huy của Đệ tứ chiến khu Đông Triều. Cũng tại đây, huyện ủy Kinh Môn tổ chức hai cuộc họp vào tháng 7 và tháng 9 năm 1947, nhằm đối phó với âm mưu đánh chiếm của địch.

Tại hang Ma: Tương truyền từ thời xa xưa, khi giặc phương Bắc sang chiếm nước ta, chúng dồn dân vào hang sâu, dùng rơm hun chết rất nhiều người, vì thế, nhân dân gọi tên là hang Ma. Trong kháng chiến, hang là nơi trú quân của bộ đội huyện và tỉnh.

Nằm ở phía Tây chùa Nhẫm Dương, hang Mạt trong kháng chiến chống Pháp nơi đây đã diễn ra nhiều cuộc chiến đấu gay go ác liệt, trên đỉnh núi quân ta cắm cờ, giặc bắn gẫy, ta lại cắm lên, cứ như vậy quân giặc phải chịu lui.

Thung Xanh nằm ở phía Đông chùa, nơi đây là căn cứ đóng quân của du kích địa phương. Thung Xanh  chứng kiến nhiều cuộc chiến đấu anh dũng của lực lượng dân quân du kích, nay hễ nói đến địa danh này đều nhớ câu:

“Đây Thung Xanh còn tanh máu giặc” hay “Đất mẹ anh hùng, Thung Xanh còn đó” hoặc “Trong hang tối vẫn sáng ngời”...

Một số hang như hang Đình, hang Lợn, hang Bò Lê, hang Thóc... là những hang rất rộng và là căn cứ đóng quân của bộ đội trong kháng chiến chống Pháp. Từ năm 1965 đến năm 1973, một số hang động trên núi là địa điểm đóng quân của Quân y viện 7 quân khu III.

Cùng với hệ thống hang động, chùa Nhẫm Dương được coi là chốn tổ của Thiền phái Tào Động do vị sư tổ Thủy Nguyệt đứng đầu. Di tích có qui mô lớn, được khởi dựng từ thời Trần, chùa được tôn tạo khá sầm uất vào thời Lê và thời Nguyễn. Năm 1952, chùa bị thực dân Pháp tàn phá nặng nề. Sau ngày hòa bình lập lại (1954), nhân dân dựng chùa bằng tranh, tre, nứa lá để làm nơi thờ Phật. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975), nhà sư trụ trì cùng tín đồ phật tử xây lại chùa bằng gạch, lợp ngói với qui mô nhỏ. Năm 1996, bằng nguồn vốn của nhân dân địa phương và công đức của khách thập phương, chùa được trùng tu với qui mô lớn, kiến trúc kiểu chữ Công (I), chất liệu bằng gạch ngói, bê tông cốt thép chắc chắn và nghệ thuật. Trong những năm tới, nhiều công trình phụ trợ sẽ được xây dựng, trở thành trung tâm phật giáo của xã và khu vực. Lễ hội hàng năm được tổ chức vào ngày 6 tháng 3 âm lịch, thu hút hàng vạn lượt khách trong và ngoài tỉnh.

Khu hang động khảo cổ học chùa Nhẫm Dương với các hiện vật quí giá đã khẳng định tiến trình lịch sử của tự nhiên và con người từ thời đại đồ đá, thời đại kim khí, thời đại phong kiến và thời kỳ hiện đại. Những di cốt hóa thạch trong hang Thánh Hóa, những di vật của văn hóa Đông Sơn tìm được trong hang Tối không chỉ có ý nghĩa về lịch sử và văn hóa quốc gia, mà nó còn mang ý nghĩa quốc tế.

Khu vực núi Nhẫm Dương là dãy núi hình thành do biến đổi của tự nhiên từ hàng triệu năm trước, tạo thành cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, có nhiều hang động và môi trường sinh thái hấp dẫn. Khu vực núi Nhẫm Dương đã được người xưa ca ngợi là “danh lam cổ tích”, ngày nay có thể phát triển ngành du lịch Việt Nam.
Căn cứ vào giá trị của di tích, UBND tỉnh đã quyết định khoanh vùng 34,23ha diện tích núi có nhiều hang động và chùa Nhẫm Dương.

Từ sau khi được xếp hạng, Ban quản lý di tích của xã được thành lập, việc bảo vệ và phát huy tác dụng của di tích được tăng cường. Đặc biệt, vai trò của nhà sư trụ trì có ảnh hưởng lớn đến việc khôi phục, tôn tạo và bảo vệ di tích. Trong những năm tới, di tích từng bước được qui hoạch, bảo tồn và phát huy tác dụng, góp phần tích cực giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam trong thời kỳ mới.

Du lịch, GO! - Theo Báo Hải Dương, ảnh sưu tầm

Thứ Sáu, 25 tháng 11, 2011

Thú đi chùa Hương trái mùa hút giới trẻ

Vào mùa xuân là mùa hội chính ở chùa Hương, các du khách cũng như phật tử kéo nhau về tham quan thắng cảnh này đông như nêm cối.

< Cảnh thu trên dòng suối Yến.

Nhưng ít ai biết rằng, đi chùa Hương vào một ngày mùa thu ít khách cũng thi vị chẳng kém
Trải nghiệm về thú đi chơi chùa Hương mùa thu của một bạn trẻ.

Cảnh không phụ lòng người.

Dưới ánh nắng dịu dàng của mùa thu, cảnh sắc hai bên bờ suối Yến hiện ra làm nao lòng người. Vào mùa này, hai bên bờ suối Yến không gieo trồng gì cả vì ngập nước.

< Lên chùa Long Vân.

Trò chuyện với cô lái thuyền, chúng tôi được biết vào mùa xuân, khi lễ hội chính diễn ra, Hương Sơn nô nức khách thập phương về vãn cảnh. “Phải huy động đến 5000 chiếc thuyền như thế này mới tạm đủ chở khách".

< Cảnh rừng núi trong thu, vẫn xanh mướt và rười rượi nắng.

Theo giá vé được quy định, tuyến chính đi thăm Hương Tích là 35 ngàn/người/lượt cả đi lẫn về, các tuyến khác (Tuyết Sơn, Long Vân) là 25 ngàn/người/lượt.

< Từ trên cao nhìn xuống…

Thường thì sau khi người lái thuyền hoàn thành một chuyến đưa khách ra vào, khách sẽ “bo” thêm một ít cho người lái. Lệ này có lẽ hình thành từ những vị khách nước ngoài với “văn hóa bo” và sau đó trở thành “luật bất thành văn” - nghĩa là nếu bạn “quên” họ sẽ nhắc bạn.

< Suối Yến lặng yên khoả mái chèo, khách đi những ngày này cũng vãn.

Ngoài tuyến chính Hương Sơn, bạn có thể đi thăm các tuyến phụ. Nếu đi Long Vân vào đầu hè, bạn sẽ được chiêm ngưỡng một dòng sen nở hồng trên nền xanh non tơ tuyệt đẹp trên đường vào, chỉ với tay là hái được bông. Động Long Vân tuy nhỏ, nhưng sâu và mát rượi. Cảnh núi non hùng vĩ trên đường đi chắc chắn sẽ làm bạn hài lòng và tốn pin máy ảnh đáng kể.

Những cái không có trong mùa lễ hội

< Lối lên từ suối Yến trong nắng thu vàng óng…

Đi chùa Hương không vào mùa lễ hội có nhiều cái hay. Không phải chịu cảnh thuyền đông đò đông, người người nhà nhà kéo nhau đi, kéo nhau vào thăm động.

< Chùa Thiên Trù lặng lẽ trong thu.

Đường từ bến Trò lên núi vắng teo, thảng hoặc mới gặp một đoàn vài người cũng đi thăm thú. Tha hồ đứng chụp ảnh mà không sợ người đông che mất cảnh đẹp. Xung quanh im ắng và tĩnh lặng, đôi khi còn nghe thấy cả tiếng lá xào xạc, tiếng chim hót xa xa và cả tiếng dê kêu be be trên núi.

< Lối xuống động Hương Tích đẹp như tranh.

Vào thăm động Hương Tích, một mình một chốn không người, mát lạnh thần tiên. Ta có thể lắng nghe cả tiếng tí tách chảy của “dòng sữa mẹ”, thư thái hứng những giọt nước từ các nhũ đá chảy xuống. Tiếng nói thì thào cũng âm u vang lên đáp lại trong động, cho một cảm giác khác biệt, một trải nghiệm thú vị khác với đi hội đông đúc, ồn ào.

Không chỉ thế, bạn còn có thể trải nghiệm rất nhiều điều khác nữa mà ở hội đông thường không dễ thấy. Bạn có thể uống nước sạch trong lòng núi dưới chân một cái miếu nhỏ, nước mát và trong bằng một cái gàu tự chế từ lon nước ngọt mà không sợ... rừng thiêng nước độc hay thu tiền phí gì cả. Bạn cũng có thể ngồi thử ở vị trí của người lái thuyền, tập khoát mái chèo đẩy thuyền đi.

Một anh bạn khi được thử làm việc này đã cho thuyền quay trọn vẹn một vòng giữa dòng, và phải lắc đầu chịu thua các cô người Hương Sơn sao mà khỏe thế, chèo thuyền chở cả chục người, leo núi gánh thêm vài chục cân chuối, quả nào quả nấy lúc lỉu, vàng ươm cứ như không.

< Tập làm tazan trên đỉnh núi.

Cũng có đi như thế này, gặp những người dân đi xuống núi sau một ngày làm việc vất vả mới thấy được cuộc sống nơi đây như thế nào. Chỉ phần nào trong số những người Hương Sơn “phất” lên nhờ thắng cảnh tiên bồng này, số còn lại vẫn còn rất vất vả mưu sinh.

Nhưng chẳng lúc nào gặp họ mà không thấy nụ cười hồn hậu chất phác của họ nở trên môi. Người Hương Sơn vẫn niềm nở, mến khách và cần cù như bao nhiêu năm về trước...

Du lịch, GO! - Theo Vietnamnet

Thứ Năm, 24 tháng 11, 2011

Động tiên Từ Thức

Nằm cách thành phố Thanh Hóa về phía Đông Bắc khoảng 50km, ẩn mình trong dãy núi Thần Phù có Động Từ Thức hay còn gọi là Động Bích Đào. Đây là một thắng cảnh nổi tiếng của xứ Thanh, gắn liền với truyền thuyết về cuộc tình duyên lãng mạn giữa chàng Từ Thức và nàng Giáng Hương.

< Đường lên động Từ Thức.

Chuyện xưa kể rằng, quan tri huyện Từ Thức vốn người huyện Tống Sơn (nay là huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá). Sau khi từ quan, nhân lúc nhàn rỗi ra chơi cửa biển Thần Phù, đi qua núi thấy một cái động đẹp nên vào xem và gặp nàng Giáng Hương. Hai người nên nghĩa vợ chồng, sống với nhau hạnh phúc ở trong động tiên. Lâu ngày nhớ nhà, Từ Thức trở về thăm quê, thấy người xưa cảnh cũ không còn, hỏi ra mới biết mình đã đi quá lâu.

< Động Từ Thức lung linh như khán phòng của một nhà hát lớn.

Buồn lòng, chàng quay lại cõi tiên với vợ, nhưng về đến nơi thì động tiên đã khép, vợ cũ cũng chẳng còn.
Truyền thuyết xưa là vậy, còn ngày nay, đường lên động Từ Thức men theo một lối đá mòn dài chừng hơn 100m từ dưới chân núi lên.

Trước cửa động, cây cối um tùm, dây leo chằng chịt. Ngay cửa động có miếu Sơn Thần và trên vách núi có bài thơ chữ Hán vịnh cảnh đẹp động Từ Thức của vua Lê Thánh Tông (1460-1497) và nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784).

< Măng đá khổng lồ hình kho gạo.

Từ bao đời nay, vẻ đẹp của động Từ Thức được dân gian thêu dệt nên thành nhiều điều huyền bí qua câu chuyện tình duyên thắm đượm yếu tố huyền thoại giữa chàng Từ Thức và nàng Giáng Hương.
Động chính gồm 2 phần. Phần ngoài rộng, trần động hình như một chiếc bát khổng lồ úp ngược. Phía dưới vòm động là một tòa nhũ đá tỏa xuống trông giống trái đào tiên, nên động Từ Thức xưa còn có tên là động Bích Đào. Nền động bằng phẳng, nay vẫn còn vết tích đền thờ Từ Thức lưu lại. Tại đây có những khối thạch nhũ lớn muôn hình muôn vẻ được người đời đặt tên theo sự liên tưởng như: kho bạc, kho gạo, kho muối, kho tiền…

< Bãi đá hình rồng ấp trứng.

Từ lòng động thứ nhất, lách mình qua một khe đá hẹp sẽ tới lòng động thứ hai. Tại đây có khối thạch nhũ mang hình cỗ “tam sinh“ với đủ trâu, dê, lợn… bằng đá được thiên nhiên tạo hóa bày sẵn từ bao đời. Cạnh đó, trên nền động, có một lớp thạch nhũ nhô lên giống như hình một con rồng đang nằm cuộn tròn, ở giữa có hàng trăm hòn thạch nhũ màu vàng trông như những quả trứng nên dân gian gọi đó là hình “rồng ấp trứng vàng”.

< Những dòng thạch nhũ từ trần hang buông xuống.

Tiến sâu vào lòng động người ta càng ngạc nhiên hơn với rất nhiều khối thạch nhũ mang hình thù kì lạ tạo nên một thế giới thần tiên mà người đời vẫn thường liên tưởng đến câu chuyện tình lãng mạn của Từ Thức và Giáng Hương như: thư phòng Từ Thức, buồng tắm Giáng Hương, xiêm áo của nàng Giáng Hương, những bông hoa, những quả đào tiên, vầng trăng, đôi chim uyên ương bằng đá…

Hết lòng động thứ hai, men theo một cây cầu gỗ nhỏ bắc qua con suối cạn róc rách tiếng nước chảy, du khách sẽ choáng ngợp với hình ảnh một lòng động thứ 3 cao, rộng và lung linh như khán phòng của một nhà hát lớn. Ở đây cũng có rất nhiều khối thạch nhũ muôn hình muôn vẻ tạo thành những bức tranh, hình bàn cờ, đôi hài, thảm hoa, ấn triện, áo mũ… làm cho du khách ngỡ ngàng như thấy lại cảnh sinh hoạt của tri huyện Từ Thức xưa kia.

< Những măng đá nhỏ xinh mọc lên từ lòng suối.

Đi sâu vào trong, có hai dấu chân người in vào đá, tương truyền đó là dấu chân của Từ Thức. Gần đó có một vũng nước trong suốt, tương truyền là nơi tiên nữ Giáng Hương từng tắm và vui đùa. Cạnh vũng nước còn có cả một dải đá màu lục lốm đốm cùng một dải đá lô nhô mang hình thù ếch nhái… nên được ví như hình ảnh quê nhà trong nỗi nhớ quê hương của chàng Từ Thức. Cũng trong động này có hai ngách đá sâu hun hút, một hướng lên trời và một hướng xuống phía dưới lòng đất, dân gian quen gọi là đường lên cõi tiên và đường xuống địa phủ.

< Những hoa văn của đá tạo hình như một chiếc ấn triện.

Sau một hồi lang thang chìm đắm với những vẻ đẹp mê hồn trong lòng động tiên Từ Thức, lúc quay ra, đứng trước cửa động, nhìn ra xa phía dưới chân núi là cả một vùng không gian rộng lớn thanh bình với những thửa ruộng vuông như ô bàn cờ, dòng sông quanh co uốn lượn, cảnh làng quê dân dã ẩn mình dưới lũy tre xanh… khiến lòng du khách bỗng nghĩ tới câu chuyện chàng Từ Thức năm xưa mãi vui lạc bước chốn thần tiên, bỗng một ngày giật mình nhớ tới quê hương muốn quay về chốn cũ.

Du lịch, GO! - Theo Báo Ảnh VN

Về động Từ Thức gặp tiên

Thứ Hai, 7 tháng 11, 2011

Tú Làn: hang động đẹp tại Quảng Bình

Từ năm 2009 tại huyện rẻo cao Minh Hoá, Quảng Bình, người dân "kháo" nhau, một người đánh cá địa phương mới phát hiện ba hang động có đại thạch nhũ lộng lẫy.

< Anh Đinh Hồng Nhâm, người khám phá về ba hang động ở Tân Hoá trong thung lũng Tú Làn đứng trước dòng nước ở Rục Poọc.

Ba hang động mà người dân nói đó là hang Tố Mộ nhỏ, Tố Mộ lớn và động Tú Làn, Tân Hoá, Minh Hoá. Người phát hiện là một nông dân chuyên thả lưới ở vùng rừng Tú Làn, anh Đinh Hồng Nhâm, thôn Quy Hợp 3, xã Xuân Hoá.

Anh Nhâm kể: “Ba hang động đó đẹp khó tả. Muốn biết đẹp như thế nào thì phải vào đó xem. Đường đi phải lội bộ, vượt lèn đá, mất hơn hai giờ mới tới được. Mệt lắm, nhưng cũng đáng”.

< Công cụ cần thiết cho những chuyến khám phá động.

Con đường vào Tố Mộ lớn, Tố Mộ nhỏ, động Tú Làn tuy vất vả nhưng đẹp như bức tranh vẽ, con suối ngằn nghèo bên chân núi. Ruộng nương bà con sắp đặt dưới núi đá như bức tranh thuỷ mặc. Khó nhất là vượt lèn Rộ, cao ngất ngưỏng, những người thợ sơn tràng địa phương đã bắt lên đó những thân cây nhỏ để có dấu mà bám vào để đi qua. Mệt vì lèn cao, nắng rát mùa hè nhưng sự háo hức của vẻ đẹp được anh Nhâm tả đã xua tan bao mệt mỏi.

< Cửa động đẹp như những quyển sách xếp chồng lên nhau cho thấy trầm tích thời gian dày hàng trăm triệu năm.

Hang Tố Mộ nhỏ hiện ra, vòm hang cao khoảng 20m, thạch nhũ muôn hình muôn vẻ, ngách nhỏ, ngách to càng làm thêm sự bí ẩn của cái tên Tố Mộ nhỏ do người dân địa phương đặt từ cách đây hàng chục năm. Hang rộng chừng khoảng ba ngàn mét vuông, thoáng đãng, mát đến lạnh người. Phía cuối hang tối om, có một ngách nhỏ dẫn xuống một dòng sông ngầm, người dân địa phương gọi là Rục Poọc.

< Một phần thạch nhũ trong động Tú Làn.

Bên hang Tố Mộ lớn, anh Nhâm nói "sợ ma", không thể dẫn vào, nhưng anh mô tả, đó là một hang động đẹp, có nhiều bí ẩn vì trong đó có hai cái cột nhỏ như bắp chân không biết ai dựng lên, trông nhỏ nhắn nhưng lại chắc chắn, nhiều người muốn đưa về trưng bày ở nhà nhưng không nhổ được và dân địa phương nói không biết làm bằng vật liệu gì.

Hang Tố Mộ lớn còn bí ẩn đến mức người dân địa phương không dám vào bởi họ nói trong đó có ma, xương người của thời xưa và xương động vật vương vãi đây đó trong các góc hang, đặc biệt có nhiều mảnh vỡ của gốm cổ. Rất có thể đây là nơi cư trú của người tiền sử?!

Vào hang Tú Làn, một cảnh tượng lộng lẫy hiện ra, vô số đại thạch nhũ đua nhau chen lên ở các vách hang, giữa nền hang, có ba cột nhũ đá vươn vai thẳng đứng với đường kính hơn một mét đã đưa lại sự ngỡ ngàng cho những ai lần đầu tiên đặt chân đến.

< Thạch nhũ khi soi đèn pin vào nó đã phản chiếu và tạo ra ánh sáng kỳ lạ.

Hang Tú Làn dài khoảng hơn 600m, đẹp hơn hẳn những hang động khác về tuyệt tác thạch nhũ như có bàn tay của ai đó sắp đặt. Càng vào sâu, càng choáng ngợp trước những cột thạch nhũ mọc từ dưới nền hang lên.

Trầm tích thời gian như lắng đọng, được tạo ra bởi hàng tỷ gịot nước từ dòng chảy đá vôi từ hàng triệu năm. Những giọt nước nhỏ xuống, toé ra, kết tủa lại tạo thành từng cột thạch nhủ tráng lệ lạ thường.

< Hệ thống cột và ngai đá trong động.

Những kiến tạo của vỏ trái đất hàng trăm triệu năm trước tạo ra sự đặc biệt về mặt địa mạo của ba hang động này. Cuối mỗi đáy hang có một ngách nhỏ dẫn xuống một hang động nước mát lạnh. Người ta gọi đó là Rục Poọc. Nó như con sông ngầm, dẫn nước từ Hung Lèn Đụng chảy ngầm dưới núi, rồi có cửa nước đổ ra Hung Tú Làn.

Chưa có nhà khoa học hang động nào đặt chân đến đây, nhưng nếu trong tương lai có đoàn thám hiểm nào đến, họ sẽ khám phá được bí ẩn của dòng sông ngầm này.

< Trong lòng động Tú Làn có thể chứa được hàng nghìn người.

Một số vị cao niên ở xã Tân Hoá, nói dòng nước của vùng núi Tú Làn có sự liên hệ với dòng nước của Động Phong Nha. Không biết đó có là sự thật hay không thì cần phải kiểm chứng một cách khoa học. Tuy nhiên có một câu chuyện chúng tôi được nghe kể lại, vào năm 1999, mưa to, lũ lớn, một người sống gần Động Phong Nha chết, nhiều ngày sau người ta phát hiện thi thể tại Hung Tú Làn.

< Nhũ đá xuất hiện rất nhiều ánh kim long lanh lấp lánh.

Người dân địa phương tin rằng, có một dòng nước ngầm nào đó xuyên qua các dãy núi đá vôi rồi đổ về Hung Tú Làn trong những lúc mưa to, nước lớn. Vấn đề đó, cần được đánh giá chính xác của giới chuyên môn địa mạo, địa chất. Bởi từ Phong Nha, đi Tân Hoá xa đến gần một trăm cây số.

Riêng chúng tôi xem cảnh đẹp của ba hang động ở Tân Hoá là một kiệt tác mới của tự nhiên. Cửa hang Tú Làn có những lớp đá xếp lên nhau như những quyển sách đầy bí ẩn chưa một ai lần đọc, dòng nước chảy ra từ nó cũng bí ẩn không kém với vẻ đẹp huyễn hoặc.


< Phía sau mỗi rèm đá là không gian khác của "căn phòng" lớn.

Ở khu vực núi Tú Làn rộng lớn với 99 đỉnh núi đá vôi khổng lồ, kỳ vĩ giữa trời xanh, chạy dài xa ngút tầm mắt, người dân nói còn vô số hang động khác chưa thể khám phá. Tại khu vực này còn sở hữu một di sản đáng giá khác là hàng trăm loài thực vật, động vật sinh sống trên núi đá vôi một cách hoà bình và kiêu hãnh.
--------------

Minh Hoá là huyện miền núi nằm phía Tây Bắc của tỉnh Quảng Bình, Bắc và Đông giáp huyện Tuyên Hoá, Nam giáp huyện Bố Trạch, phía Tây giáp nước bạn Lào.

< Khối rèm đá trang trí khắp chân bao của động.

Muốn tới động Tú Làn phải qua lèn Ton, núi Tố Mộ, qua hết con dốc cây Xoài con đường trở nên dễ dàng hơn. Cả một khu rừng nguyên sinh với động thực vật đa dạng, phong phú. Nơi đây có hàng trăm loại động thực vật tạo nên một hệ sinh thái đa dạng với nhiều loài. Khí hậu nơi đây mang tính nhiệt đới gió mùa nên tạo điều kiện thuận lợi cho các loài thực vật phát triển quanh năm. Qua hết rừng nguyên sinh thung lũng Tú Làn hiện ra trước mặt như một tuyệt bút hoàn mỹ của thiên nhiên. Nơi đây sơn thuỷ hữu tình, đẹp như một bức tranh thuỷ mặc có đầy đủ các yếu tố sông, nước, núi đá.

< "Mâm xôi" đá này có kích cỡ bằng khoảng 5 cái chiếu đôi.

Đường đến thung lũng Tú Làn đẹp như một bức tranh vẽ. Nước con khe Rào được bắt nguồn từ con đập Ba Nương chảy uốn lượn xung quanh Thị trấn Quy Đạt rồi đổ về Tân Hoá nhập với dòng nước Trung Hoá rồi đổ về đây. Con khe Rào chảy êm đềm nhưng hàng năm nó bồi đắp rất nhiều phù sa cho vùng Tân Hoá. Nước khe Rào chảy đến chân lèn Ton thì bị chắn lại rẽ thành hai hướng. Một hướng chảy ngầm qua núi tới thung lũng La Ken rồi đổ ra hung Đụng. Còn một nhánh chảy vào chân lèn Ton rồi đổ ra hang Tố Mộ. Đến thung lũng Tú Làn thì nhập lại với nhau đổ vê động Tú Làn.

< Những viên đá như thiên thạch có rất nhiều trong động.

Thiên nhiên đã tạo cho vùng hang động Tú Làn nét đẹp nên thơ, có sự lồng ghép giữa các cảnh vật. Tiếng thác nước đổ ra từ hung Đụng hoà cùng với tiếng chim và những âm thanh của núi rừng tạo nên một bản nhạc giao hưởng như một bản hùng ca với đầy đủ các loại nhạc cụ. Con thác chảy ra từ hung Đụng tung bọt trắng xoá, trông có vẻ dữ dằn nhưng rất êm đềm, chảy nhẹ nhàng và đổ về động Tú Làn. Bước vào thung lũng Tú Làn ta như lạc vào chốn “Bồng lai tiên cảnh”.

Đường đi qua động Tú Làn càng trở nên đẹp và hấp dẫn hơn. Con đường này được xây dựng toàn bằng đá cuội và cát bởi dòng nước đổ ra từ hung Đụng cùng với hai cây Lộc cà xây Sung chầu hai bên đứng thế “tả Thanh Long hữu Bạch Hổ”, đứng hiên ngang giữa thung lũng Tú Làn càng làm cho thung lũng Tú Làn gần gũi và ấm áp hơn.

<  Nước chảy xuyên qua lòng động.

Bước tới hang nước Tú Làn càng ngỡ ngàng và giật mình khi thấy của hang hiện ra với vòm hang cao và rộng, nhìn như một con cá mập khổng lồ đang há hốc miệng. Bên trong những rặng thạch nhũ đủ các hình dáng tạo nên những chiếc răng nanh càng tô vẽ thêm nét đẹp kì bí và hấp dẫn hơn, dòng nước Tú Làn như bị nuốt trôi vào đây.

Mặt nước của hang Tú Làn với dòng nước từ hang Tố Mộ, hung Đụng nhập lại hoà với nhau một cách hài hoà, êm đềm. Ánh nắng ban mai cùng với những cơn gió nhẹ làm cho dòng nước gợn sóng viếc xanh lấp lánh. Nhìn mặt nước như một tấm gương phản chiếu tất cả khung cảnh của vùng Tú Làn...

< Động có nước chảy ngầm qua quanh năm. Theo tìm hiểu được biết chỉ cần bịt cửa hang trên dãy núi đá chắn ngang khe nước của huyện Minh Hóa thì đây sẽ thành biển nước mênh mông.

Cách động nước không xa là động khô của Tú Làn, nằm e ấp thu mình lại giữa những tán lá rừng, ẩn chứa bên trong là vẻ đẹp lộng lẫy và tráng lệ. Động khô Tú Làn với vòm hang rộng và cao, ánh sáng mờ ảo càng làm cho cửa động thêm vẻ huyền ảo và kì bí hơn. Bước vào sâu trong hang khi ánh sáng không còn, bên phải cửa động là một bức tượng đài Phật bằng đá hiện ra trước mắt với nét chạm trổ tài tình của thiên nhiên, trông như có bàn tay khéo léo của con người chạm khắc, gọt dũa. Bức tượng càng tạo thêm vẻ linh thiêng, huyền bí cho động Tú Làn.

< Rèm đá buông lửng luôn có âm thanh lạ khi chạm vào.

Giữa nền hang là ba cột thạch nhũ dựng đứng vững chắc, trông như một công trình kiến trúc cổ xưa được chạm khắc lên những tiết tấu như “Rồng bay, Phượng múa”. Bàn tay thiên nhiên đã trau chuốt một cách tỉ mỉ như những nhà điêu khắc điêu luyện, tài ba. Ba cột thạch nhũ đứng với dáng vẻ uy nghi khoẻ khoắn càng tạo nên sự vững chắc cho hang động.  Những thạch nhũ đá buông xuống với nhiều màu sắc khác nhau, trông rất mềm mại, uyển chuyển. Sự kết hợp hài hoà giữa các nhũ đá, măng đá như có một sự đan xen lồng ghép tạo nên vẻ đẹp lộng lẫy, huyền ảo, như một tấm vải thổ cẩm được dát lên đó muôn vàn hoa văn sặc sỡ, tạo cho hang động Tú Làn một vẻ đẹp không riêng không hang động nào có được.

< Một sân khấu có 7 bậc lên và có thể chứa được khoảng vài trăm người.

Đang choáng ngợp với vẻ đẹp lung linh, kỳ ảo của thạch nhũ thì sân khấu hiện ra trước mắt như có ai đó đã xây dựng lên từng bậc tam cấp được nạm bằng kim cương sáng lấp lánh, được dàn dựng rất công phu bởi những người thợ điêu luyện của tự nhiên. Ở dưới nền hang cũng được trải bởi hàng vạn viên đá nhỏ trông như những viên bi và một tấm thảm lớn bằng cát. Các hình thù trong động Tú Làn rất đa dạng, nhìn như một đàn mực đang lượn lờ với nhiều màu sắc lấp lánh. Có nhiều rặng thạch nhũ như một dàn nhạc cụ bằng đá của người Tây Nguyên với đầy đủ âm sắc, khi gõ vào tạo nên những âm thanh nghe rất êm tai.


< Trong động có 4 nhũ đá hình thù tựa 4 chân con rồng chia cho 4 góc động.

Nơi đây không chỉ hấp dẫn với muôn vàn thạch nhũ và những kiến tạo lý thú của thiên nhiên mà Tú Làn còn ghi lại dấu tích của con người sinh sống. Có thể đây có một nền văn hoá cổ xưa, những mảnh vỡ của đồ gốm và xương hoá thạch có thể khẳng định điều đó. Bởi thế, Tú Làn không chỉ là một địa điểm du lịch tự nhiên mà còn hứa hẹn là một điểm du lịch lịch sử hấp dẫn du khách đến tìm hiểu, tham quan.

Nếu như Tú Làn được thiên nhiên ban tặng vô vàn thạch nhũ lộng lẫy, hấp dẫn thì hang Tố Mộ lại mang trên mình một dáng vẻ khác. Dòng suối chảy ra từ hang Tố Mộ thướt tha trông như mái tóc người thiếu nữ. Tiếng suối như một bản hùng ca hoành tráng mang âm hưởng của núi rừng nhưng vẫn êm đềm nhập lại với dòng nước Tố Mộ nhỏ và hoà với dòng nước từ hung Đụng chảy về hang Tú Làn. Vùng hang Tú Làn, Tố Mộ còn là nơi sinh sống của hàng trăm loài động – thực vật, tạo nên một hệ sinh thái đa dạng cả trên cạn lẫn dưới nước.

Du lịch, GO! - Theo Datviet, Thongtinthuongmai, Anninh Thudo